Tin Chuyên Ngành
 
​Năm 2020, dịch bệnh Covid-19 kéo dài tác động xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Hoạt động giáo dục nghề nghiệp cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ, nhất là đối với các cơ sở tư thục. Tính đến 31/12/2020, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN) đã tuyển sinh được 13.088/12.041 người, đạt 108,7% so với kế hoạch. Trong đó, hệ cao đẳng tuyển được 451/305 người đạt 147,87% (bao gồm 88 SV thuộc 3 ngành ngoài sư phạm), trình độ trung cấp 1.860/2.060 người đạt 90,29%, sơ cấp và đào tạo thường xuyên 7.368/6.116 người đạt 120,47%, đào tạo nghề cho lao động nông thôn 3.409/3.560 người đạt 95,76%.
 
Ngày 11.1, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội tổ chức hội nghị trực tuyến triển khai nhiệm vụ lao động, người có công và xã hội năm 2021. Dự hội nghị tại điểm cầu chính có Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam, ông Đào Ngọc Dung-Bộ Trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cùng lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương.
 
Thông báo số 3851/TB-SLĐTBXH ngày 30/12/2020 của Sở LĐTBXH về việc lịch tiếp công dân của Sở LĐTBXH năm 2021
 
Sáng 31/12, tại Phủ Chủ tịch, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức Họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về việc công bố Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng. Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2021.
 
Chiều nay, 29/12, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 12/2020, chủ yếu bàn về công tác xây dựng thể chế chính sách, pháp luật. Tại phiên họp, Thủ tướng đồng ý ban hành chuẩn nghèo mới.
 
Sáng 21.12, tại nghĩa trang liệt sĩ Đồi 82 (xã Thạnh Tây, huyện Tân Biên), Tỉnh uỷ, HĐND, UBND, Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh tổ chức lễ viếng nghĩa trang nhân kỷ niệm 76 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22.12.1944-22.12.2020).
 
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 145/2020/NĐ-CP (có hiệu lực từ 01/2/2021), trong đó hướng dẫn 04 quy định mới về tiền lương của NLĐ theo quy định tại Bộ luật lao động 2019 (có hiệu lực từ 01/01/2021) như sau:
 
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động, trong đó quy định về chăm sóc sức khỏe đối với lao động nữ.
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Phân loại
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP  CÓ NHIỀU KHỞI SẮCHOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP  CÓ NHIỀU KHỞI SẮC
​Năm 2020, dịch bệnh Covid-19 kéo dài tác động xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Hoạt động giáo dục nghề nghiệp cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ, nhất là đối với các cơ sở tư thục. Tính đến 31/12/2020, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN) đã tuyển sinh được 13.088/12.041 người, đạt 108,7% so với kế hoạch. Trong đó, hệ cao đẳng tuyển được 451/305 người đạt 147,87% (bao gồm 88 SV thuộc 3 ngành ngoài sư phạm), trình độ trung cấp 1.860/2.060 người đạt 90,29%, sơ cấp và đào tạo thường xuyên 7.368/6.116 người đạt 120,47%, đào tạo nghề cho lao động nông thôn 3.409/3.560 người đạt 95,76%.


Số học sinh, sinh viên, học viên tốt nghiệp trong năm 11.167 người, trong đó trình độ cao đẳng 215 người (bao gồm 51 SV thuộc các ngành ngoài sư phạm); trung cấp 857 người; sơ cấp và đào tạo thường xuyên 6.696 người; đào tạo nghề cho lao động nông thôn 3.409 người.

Sau khi ra trường có khoảng 84% học sinh, sinh viên, học viên tìm được việc làm và có thu nhập tương đối ổn định, dao động ở mức 4 – 6,5 triệu đồng/người/tháng tùy vào trình độ và ngành nghề đào tạo.

GDNNKS01.jpg

Những năm trước đây, đa số phụ huynh không muốn cho con em vào học nghề sớm, mà học tiếp lên THPT để thi vào các trường đại học, cao đẳng. Hiện nay nhiều em vừa tốt nghiệp THCS đã đăng ký vào học trường nghề, vừa được học văn hóa, sau khi tốt nghiệp trung cấp nếu có nguyện vọng thì tiếp tục đăng ký học liên thông ở trình độ cao hơn. Thời gian học nghề đối với sơ cấp từ 3 tháng đến dưới 1 năm, trung cấp từ 1-2 năm và cao đẳng từ 2-3 năm tùy vào từng ngành nghề đào tạo. Do thời gian đào tạo ngắn, chi phí học tập giảm, sớm ra trường có tay nghề, có việc làm và ổn định cuộc sống.

Bên cạnh đó, chính sách miễn học phí đối với học sinh tốt nghiệp THCS học tiếp trung cấp là thu hút số đông học sinh có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Đặc biệt năm nay Sở Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp chặt chẽ với các cơ quan truyền thông trên địa bàn tỉnh thực hiện các phóng sự, chuyên trang tuyên truyền về chính sách pháp luật GDNN; tổ chức Ngày hội tư vấn tuyển sinh GDNN cấp tỉnh; tổ chức biên soạn tài liệu hỏi – đáp cung cấp thông tin về đối tượng, chỉ tiêu tuyển sinh, ngành nghề đào tạo, chính sách miễn, giảm học phí…theo hình thức tờ rơi phổ biến trong các trường THCS, THPT và trong nhân dân.

Để giải quyết việc làm cho các em HSSV sau khi tốt nghiệp, các trường trung cấp, cao đẳng nghề mời các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh đến dự lễ phát bằng tốt nghiệp, qua đó các doanh nghiệp tổ chức tư vấn việc làm và tuyển dụng nhân sự ngay tại trường. Ngoài ra, các trường còn giữ mối quan hệ tốt với doanh nghiệp, hợp tác xã, thường xuyên cung cấp kết quả học tập cho các doanh nghiệp và ngược lại các doanh nghiệp cung cấp thông tin về điều kiện, tiêu chuẩn, vị trí tuyển dụng để các em HSSV biết. Một số trường còn phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp, chủ trang trại, bệnh viện tư tạo điều kiện để HSSV đến thực tập. Trong thời gian thực tập, nếu làm ra sản phẩm đúng quy chuẩn sẽ được doanh nghiệp hỗ trợ tiền ăn và tiền công. Sau khi hoàn thành chương trình học một số em đã được doanh nghiệp, hợp tác xã tuyển dụng vào làm việc.

                                                                                                                                                       Nguyễn Văn Minh - Phó Trưởng phòng DN-LĐVL&ATLĐ

1/13/2021 9:00 AMĐã ban hànhDạy nghềTinHOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP  CÓ NHIỀU KHỞI SẮC/PublishingImages/2021-01/GDNNKS01_Key_13012021085314.jpg
​Năm 2020, dịch bệnh Covid-19 kéo dài tác động xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Hoạt động giáo dục nghề nghiệp cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ, nhất là đối với các cơ sở tư thục. Tính đến 31/12/2020, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN) đã tuyển sinh được 13.088/12.041 người, đạt 108,7% so với kế hoạch. Trong đó, hệ cao đẳng tuyển được 451/305 người đạt 147,87% (bao gồm 88 SV thuộc 3 ngành ngoài sư phạm), trình độ trung cấp 1.860/2.060 người đạt 90,29%, sơ cấp và đào tạo thường xuyên 7.368/6.116 người đạt 120,47%, đào tạo nghề cho lao động nông thôn 3.409/3.560 người đạt 95,76%.
1/13/2021 9:00 AMYesĐã ban hành
Tây Ninh nhận bằng khen của Bộ Lao động Thương binh và Xã hộiTây Ninh nhận bằng khen của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Ngày 11.1, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội tổ chức hội nghị trực tuyến triển khai nhiệm vụ lao động, người có công và xã hội năm 2021. Dự hội nghị tại điểm cầu chính có Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam, ông Đào Ngọc Dung-Bộ Trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cùng lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương.

170_duplicate518_img-2776.jpg

Tại điểm cầu tỉnh Tây Ninh.

Dự tại điểm cầu tỉnh Tây Ninh có ông Nguyễn Thanh Phong- Phó Chủ tịch HĐND tỉnh, bà Võ Thanh Thuỷ- Giám đốc Sở Lao động Thương binh và Xã hội; lãnh đạo các sở, ngành có liên quan; Trưởng các phòng, ban, trung tâm, cơ sở trực thuộc Sở; đại diện lãnh đạo Phòng Lao động Thương binh và Xã hội các huyện, thị xã, thành phố.

Sau 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (2011-2020), 5 năm thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (2016-2020), với sự nỗ lực phấn đấu của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động toàn ngành, lĩnh vực lao động, người có công và xã hội đạt những kết quả quan trọng.

Quy mô nguồn nhân lực mở rộng, lực lượng lao động tăng từ 54,2 triệu người năm 2015 lên 54,6 triệu người năm 2020. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 51,6% năm 2015 lên khoảng 64,5% năm 2020. Nhân lực chất lượng cao tăng cả về số lượng và chất lượng, một số ngành nghề, lĩnh vực đạt trình độ khu vực và quốc tế; chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam nằm trong nhóm phát triển cao, đứng thứ 110 trong 189 quốc gia; chỉ số nguồn nhân lực Việt Nam chỉ đứng sau Singapore trong khu vực Đông Nam Á. Tỷ lệ thất nghiệp duy trì ở mức thấp, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị luôn duy trì dưới 4%.

Các đơn vị thực hiện tốt chính sách người có công với cách mạng, đời sống người có công nâng lên. 99,7% hộ gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của nhân dân nơi cư trú; không còn hộ người có công trong diện hộ nghèo.

170_duplicate518_img-2787.jpg

Các đại biểu tham dự hội nghị tại điểm cầu Tây Ninh.

Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giảm nhanh, từ 9,88% năm 2015 xuống còn 2,75% cuối năm 2020. Thành tích giảm nghèo được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao, đưa Việt Nam thành “một trong những câu chuyện thành công nhất về giảm nghèo và đóng góp nhiều bài học thành công cho thế giới”.

Đối với Tây Ninh, trong năm 2020, ngành tập trung chỉ đạo thực hiện công tác chăm lo Tết Nguyên đán Canh Tý năm 2020 cho gia đình chính sách, người có công, hộ nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em con đồng bào dân tộc thiểu số.

Các chỉ tiêu kế hoạch năm 2020 cơ bản đều đạt và vượt chỉ tiêu như số việc làm tăng thêm 19.782/17.000 lao động; tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đạt 70%. Chăm lo tốt công tác an sinh xã hội, tổ chức thăm hỏi và tặng quà cho các đối tượng chính sách người có công, người cao tuổi, các đối tượng bảo trợ xã hội và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và thực hiện công tác chi trả trợ cấp cho các đối tượng trên địa bàn tỉnh bảo đảm theo quy định. Sở Lao động Thương binh và Xã hội phối hợp với các ngành tham mưu kế hoạch thực hiện tuyên truyền cho 3.500 lượt người lao động và người sử dụng lao động tại 350 doanh nghiệp.

Các cấp, các ngành quan tâm đến công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ, xem là nhiệm vụ quan trọng trong phát triển mọi mặt của tỉnh. Đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ ngày càng nâng cao, vị thế trong gia đình và ngoài xã hội được khẳng định, tạo điều kiện thuận lợi cho thực hiện mục tiêu về bình đẳng giới.

170_duplicate518_img-1510(1).jpg

Đời sống người lao động ngày càng được quan tâm.

Duy trì thực hiện nhiều mô hình nâng cao công tác cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng như duy trì các điểm tư vấn, chăm sóc, hỗ trợ điều trị người nghiện tại cộng đồng, thành lập mô hình quản lý, giáo dục và điều trị người nghiện có hiệu quả.

Ông Đào Ngọc Dung- Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đề nghị, trong năm 2021, các đơn vị không được tự mãn các kết quả đã đạt được, càng phải nỗ lực phấn đấu nhiều hơn nữa, kiên định, nhất quán chủ trương phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội.

Các đơn vị tập trung thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản như triển khai chủ động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả Nghị quyết 01, 02 của Chính phủ, thực hiện mục tiêu kép, vừa tập trung phòng chống dịch, vừa bảo đảm phát triển kinh tế, an sinh xã hội và phúc lợi xã hội.

Nâng cao chất lượng, xây dựng thể chế và hoàn thiện hệ thống pháp luật về lao động, việc làm, người có công, bảo đảm đồng bộ, hiện đại và hội nhập; triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo chuyển biến mạnh mẽ, thực chất hơn về giáo dục nghề nghiệp- nhất là đào tạo chất lượng cao, kỹ năng lao động, đào tạo gắn với thị trường lao động; thực hiện chuyển đổi số với tốc độ, tiến độ nhanh nhất trong lĩnh vực này. Các đơn vị tập trung kiến tạo môi trường để mọi người có cơ hội tham gia đóng góp, không để ai bị bỏ lại phiếu sau; hoàn thành và phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, bao trùm, bền vững…

Dịp này, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội tặng cờ thi đua xuất sắc cho 17 đơn vị thuộc Bộ, 12 địa phương; tặng bằng khen cho 22 đơn vị thuộc Bộ, 33 Sở Lao động - Thương binh và xã hội các tỉnh, thành phố đã có thành tích xuất sắc trong công tác năm 2020.

Nguồn: Baotayninh.gov.vn

1/12/2021 10:00 AMĐã ban hànhPhòng, chống tệ nạn xã hộiTinTây Ninh nhận bằng khen của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội/PublishingImages/2021-01/170_duplicate518_img-2787_Key_12012021094722.jpg
Ngày 11.1, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội tổ chức hội nghị trực tuyến triển khai nhiệm vụ lao động, người có công và xã hội năm 2021. Dự hội nghị tại điểm cầu chính có Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam, ông Đào Ngọc Dung-Bộ Trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cùng lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương.
1/12/2021 10:00 AMYesĐã ban hành
 Sở LĐTB&XH: Hướng dẫn nộp hồ sơ trực tuyến thủ tục cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam Sở LĐTB&XH: Hướng dẫn nộp hồ sơ trực tuyến thủ tục cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam

 
1/7/2021 4:00 PMĐã ban hànhAn toàn lao độngTin Sở LĐTB&XH: Hướng dẫn nộp hồ sơ trực tuyến thủ tục cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam/PublishingImages/2021-01/Hình 1_Key_07012021210046.jpg
1/7/2021 4:00 PMYesĐã ban hành
Sở LĐTB&XH: Hướng dẫn nộp hồ sơ trực tuyến thủ tục báo cáo giải trình nhu cầu thay đổi nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài qua mạng xã hội ZaloSở LĐTB&XH: Hướng dẫn nộp hồ sơ trực tuyến thủ tục báo cáo giải trình nhu cầu thay đổi nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài qua mạng xã hội Zalo

 
1/7/2021 4:00 PMĐã ban hànhLao động - Tiền lươngTinSở LĐTB&XH: Hướng dẫn nộp hồ sơ trực tuyến thủ tục báo cáo giải trình nhu cầu thay đổi nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài qua mạng xã hội Zalo/PublishingImages/2021-01/Hình 1gvguv_Key_07012021210220.jpg
1/7/2021 4:00 PMYesĐã ban hành
Lịch tiếp công dân năm 2021Lịch tiếp công dân năm 2021
Thông báo số 3851/TB-SLĐTBXH ngày 30/12/2020 của Sở LĐTBXH về việc lịch tiếp công dân của Sở LĐTBXH năm 2021

lichtiepcongdan2021.JPG

Toàn văn Thông báo số 3851/TB-SLĐTBXH ngày 30/12/2020 của Sở LĐTBXH: CKS. Lịch tiếp công dân năm 2021_Signed.pdf

1/4/2021 5:00 PMĐã ban hànhPhòng, chống tệ nạn xã hộiTinLịch tiếp công dân năm 2021/PublishingImages/2021-01/Lịch tiếp công dân trường THCS Võ Trường Toản_Key_04012021165952.jpg
Thông báo số 3851/TB-SLĐTBXH ngày 30/12/2020 của Sở LĐTBXH về việc lịch tiếp công dân của Sở LĐTBXH năm 2021
1/4/2021 5:00 PMYesĐã ban hành
Công bố Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạngCông bố Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng
Sáng 31/12, tại Phủ Chủ tịch, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức Họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về việc công bố Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng. Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2021.

Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Lê Khánh Hải chủ trì buổi họp báo. Cùng dự có Thứ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và xã hội Lê Văn Thanh và đại diện các bộ, ngành có liên quan.
Tại buổi họp báo, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Lê Khánh Hải đã công bố Lệnh số 18/2020/L-CTN của Chủ tịch nước công bố Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng được Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 09/12/2020.
Cổng TTĐT Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội
Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Lê Khánh Hải công bố Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng.
Pháp lệnh gồm gồm 7 chương và 58 điều (Pháp lệnh năm 2020). Dự kiến có khoảng 3 nghị định của Chính phủ và 3 thông tư của Bộ LĐ-TBXH để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành. Pháp lệnh năm 2020 đã bổ sung 2 chương mới là: “Công trình ghi công liệt sĩ, mộ liệt sĩ” và “Nguồn lực thực hiện”. Bổ sung 10 điều mới và sửa đổi nội dung 41 điều trên cơ sở kế thừa các quy định đã thực hiện ổn định trong thực tiễn của Pháp lệnh và Nghị định, Thông tư hiện hành. Pháp lệnh cũng nêu rõ nội dung về đối tượng áp dụng, điều kiện, tiêu chuẩn, chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, chế độ ưu đãi đối thân nhân và người có liên quan với người có công với cách mạng.
Một số nội dung lớn đáng chú ý là: Pháp lệnh mở rộng việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng, bổ sung đối tượng người có công và thân nhân như: Người bị địch bắt tù đày do trực tiếp hoạt động cách mạng, trực tiếp chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế sau năm 1975; mở rộng đối tượng người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc; bổ sung đối tượng hưởng ưu đãi là vợ hoặc chồng liệt sĩ lấy chồng hoặc vợ khác mà nuôi con liệt sĩ đến tuổi trưởng thành hoặc chăm sóc cha mẹ đẻ liệt sĩ khi còn sống hoặc vì hoạt động cách mạng mà không có điều kiện chăm sóc cha mẹ đẻ liệt sĩ khi còn sống.
Cổng TTĐT Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội
Toàn cảnh lễ công bố

Công bố Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng

31/12/2020

Sáng 31/12, tại Phủ Chủ tịch, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức Họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về việc công bố Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng. Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2021. 

Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Lê Khánh Hải chủ trì buổi họp báo. Cùng dự có Thứ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và xã hội Lê Văn Thanh và đại diện các bộ, ngành có liên quan.
Tại buổi họp báo, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Lê Khánh Hải đã công bố Lệnh số 18/2020/L-CTN của Chủ tịch nước công bố Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng được Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 09/12/2020.
Cổng TTĐT Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội
Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Lê Khánh Hải công bố Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng. 
Pháp lệnh gồm gồm 7 chương và 58 điều (Pháp lệnh năm 2020). Dự kiến có khoảng 3 nghị định của Chính phủ và 3 thông tư của Bộ LĐ-TBXH để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành. Pháp lệnh năm 2020 đã bổ sung 2 chương mới là: “Công trình ghi công liệt sĩ, mộ liệt sĩ” và “Nguồn lực thực hiện”. Bổ sung 10 điều mới và sửa đổi nội dung 41 điều trên cơ sở kế thừa các quy định đã thực hiện ổn định trong thực tiễn của Pháp lệnh và Nghị định, Thông tư hiện hành. Pháp lệnh cũng nêu rõ nội dung về đối tượng áp dụng, điều kiện, tiêu chuẩn, chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, chế độ ưu đãi đối thân nhân và người có liên quan với người có công với cách mạng.
Một số nội dung lớn đáng chú ý là: Pháp lệnh mở rộng việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng, bổ sung đối tượng người có công và thân nhân như: Người bị địch bắt tù đày do trực tiếp hoạt động cách mạng, trực tiếp chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế sau năm 1975; mở rộng đối tượng người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc; bổ sung đối tượng hưởng ưu đãi là vợ hoặc chồng liệt sĩ lấy chồng hoặc vợ khác mà nuôi con liệt sĩ đến tuổi trưởng thành hoặc chăm sóc cha mẹ đẻ liệt sĩ khi còn sống hoặc vì hoạt động cách mạng mà không có điều kiện chăm sóc cha mẹ đẻ liệt sĩ khi còn sống.
Cổng TTĐT Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội
Toàn cảnh lễ công bố
Pháp lệnh cũng chuẩn hóa các điều kiện, tiêu chuẩn xem xét công nhận người có công với cách mạng theo đúng nguyên tắc chặt chẽ, thật sự xứng đáng, tôn vinh đúng đối tượng. Các điều kiện, tiêu chuẩn đối với 12 diện đối tượng người có công với cách mạng đã được rà soát kỹ từ thực tiễn.
Chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng và thân nhân được tập hợp để quy định một cách thống nhất, rõ ràng trong Pháp lệnh. Theo đó, từng đối tượng và người có công được hưởng chế độ ưu đãi gồm trợ cấp, phụ cấp hằng tháng, trợ cấp một lần và chế độ ưu đãi khác như bảo hiểm y tế, điều dưỡng phục hồi sức khỏe, cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, thiết bị phục hồi chức năng, ưu tiên trong tuyển sinh, tạo việc làm, hỗ trợ cải thiện nhà, miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất, vay vốn ưu đãi để kinh doanh, miễn giảm thuế…
Đồng thời định rõ nguyên tắc hưởng trợ cấp, phụ cấp ưu đãi người có công với cách mạng; quy định chế độ trợ cấp mai táng; bổ sung chế độ bảo hiểm y tế và trợ cấp tuất hàng tháng đối với vợ hoặc chồng liệt sĩ tái giá; quy định mức trợ cấp hàng tháng với Bà mẹ Việt Nam anh hùng bằng 3 lần mức chuẩn, đảm bảo Bà mẹ VNAH sống tốt mà không phụ thuộc vào số con liệt sĩ.
(Nguồn: Molisa.gov.vn)


1/1/2021 8:00 PMĐã ban hànhChính sách người có côngTinCông bố Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng/PublishingImages/2021-01/e599275a-b91a-4adb-8e74-011e98344ff9_Key_01012021194433.jpg
Sáng 31/12, tại Phủ Chủ tịch, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức Họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về việc công bố Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng. Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2021.
1/1/2021 8:00 PMYesĐã ban hành
Thủ tướng đồng ý ban hành chuẩn nghèo mớiThủ tướng đồng ý ban hành chuẩn nghèo mới
Chiều nay, 29/12, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 12/2020, chủ yếu bàn về công tác xây dựng thể chế chính sách, pháp luật. Tại phiên họp, Thủ tướng đồng ý ban hành chuẩn nghèo mới.

7c018383-e752-4881-9499-17eb3d0aac0e.jpg

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 12/2020.

Tại phiên họp thường kỳ, Chính phủ xem xét, thảo luận về: Tình hình thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết năm 2020, nhiệm vụ năm 2021; báo cáo về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025, về đề nghị xây dựng Luật Dầu khí (sửa đổi), về Nghị định quy định chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2021-2025…
Theo báo cáo của Bộ Tư pháp, trong năm 2021, nhiệm vụ xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết của các bộ là rất nặng, với 72 văn bản, trong đó có 47 văn bản quy định chi tiết thi hành 12 luật, nghị quyết sẽ có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2021. Ngoài ra, dự kiến các bộ còn phải xây dựng 32 văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết vừa được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 10.
Một số luật giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng quy định chi tiết tương đối nhiều nội dung, ví dụ như Luật Thi hành án hình sự (sửa đổi) với 40 nội dung giao quy định chi tiết; Luật Đầu tư công (sửa đổi) với 30 nội dung giao quy định chi tiết. Luật Quản lý thuế (sửa đổi) với 67 nội dung giao quy định chi tiết…
Một số nội dung luật giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng quy định chi tiết là những vấn đề mới, khó, phức tạp; nội dung chính sách chưa rõ hoặc thiếu định hướng cụ thể về chính sách dẫn đến kéo dài thời gian soạn thảo, ban hành văn bản quy định chi tiết.
Sau khi nghe ý kiến thảo luận, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, tình trạng chậm, nợ văn bản giảm dần nhưng đến cuối năm 2020 có xu hướng tăng so với năm 2017. Một số văn bản nợ do chờ chủ trương của các cấp có thẩm quyền hoặc nội dung phức tạp, cần đánh giá tác động kỹ lưỡng thêm, cân nhắc thời điểm ban hành phù hợp.
Về công tác xây dựng pháp luật năm 2021, Thủ tướng yêu cầu tổ chức thực hiện nghiêm Chỉ thị số 43/CT-TTg về nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật. Đây là sản phẩm sau Hội nghị toàn quốc do Chính phủ tổ chức về công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật và thi hành pháp luật vào ngày 24/11/2020.
55c04f45-2fd5-4e40-a63b-5a4ffdb600e5.jpg
Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 12/2020 chủ yếu bàn về công tác xây dựng thể chế chính sách, pháp luật.
Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành chủ động phối hợp chỉnh lý các dự án luật đã được Quốc hội khóa XIV cho ý kiến tại kỳ họp thứ 10, tập trung soạn thảo, trình các dự án luật thuộc chương trình xây dựng luật năm 2021.
Bộ Giao thông vận tải phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an nghiên cứu, tiếp thu ý kiến các đại biểu Quốc hội về dự án Luật Giao thông đường bộ (sửa đổi) và Luật Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ trong đó lưu ý làm rõ sự cần thiết, phạm vi điều chỉnh, mối quan hệ giữa 2 dự án Luật.
Bộ Công an cần tiếp thu ý kiến về dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, trong đó lưu ý về sự cần thiết ban hành, báo cáo Chính phủ xem xét, thảo luận cùng với Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2022, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021.
Các bộ, ngành chỉ đạo sát sao việc xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết, khẩn trương chỉnh lý, hoàn thiện để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền đối với các văn bản nợ ban hành.
Tại phiên họp, Chính phủ đã nghe lãnh đạo Bộ NN&PTNT trình bày báo cáo tóm tắt về việc xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025. Theo đó, phấn đấu có thêm ít nhất 1.776 xã đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn này, đưa tổng số xã đạt chuẩn lên 80% từ mức 62% hiện nay. Mỗi tỉnh, thành phố phấn đấu có 2 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn nông thôn mới. Dự kiến tổng huy động thực hiện chương trình hơn 2,6 triệu tỷ đồng, tăng 25% so với giai đoạn 2016-2020.
Về vấn đề xây dựng nông thôn mới, Thủ tướng nhấn mạnh tinh thần là làm sao mức sống của nông dân, đồng bào dân tộc thiểu số tốt hơn, “chứ không phải trong lúc khó khăn này chỉ tập trung làm hạ tầng”. Các bộ, ngành phối hợp rà lại xem chỗ nào trùng lắp, chồng chéo, cố gắng bổ sung thêm nguồn để thực hiện chương trình này tốt nhất vì thiết thực với nhân dân.
Đối với bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2021-2025, Thủ tướng giao Bộ NN&PTNT chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan trình Thủ tướng xem xét, ban hành.
Chính phủ cũng thảo luận về dự thảo Nghị định quy định chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2021-2025 do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì. Để thực hiện mục tiêu giảm nghèo, từ năm 1993 đến nay, Việt Nam đã 7 lần ban hành chuẩn nghèo quốc gia. Việc xây dựng chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2021-2025 để làm căn cứ để xác định, nhận diện chính xác hơn, toàn diện hơn hộ nghèo, hộ cận nghèo đa chiều và đối tượng khác thụ hưởng các chính sách, chương trình giảm nghèo và an sinh xã hội trên phạm vi toàn quốc. Đồng thời làm cơ sở thực tiễn để xác định mục tiêu, chỉ tiêu giảm nghèo trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII, Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ giai đoạn 2021-2025.
Chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2021-2025 cũng làm cơ sở cho việc đưa ra các chính sách, cơ chế, giải pháp thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững. Tiêu chí đo lường nghèo đa chiều bao gồm đủ tiêu chí thu nhập và tiêu chí tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản để xác định, nhận diện chính xác hộ nghèo, hộ cận nghèo, bảo đảm phù hợp với phương pháp luận, bản chất nghèo đa chiều; tiêu chí thu nhập tiệm cận bằng chuẩn mức sống tối thiểu.
Sau khi nghe các ý kiến, kết luận về vấn đề này, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cơ bản nhất trí nội dung dự thảo Nghị định, đồng ý chủ trương về việc ban hành chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2021-2025.
Theo Chinhphu.vn


12/29/2020 11:00 PMĐã ban hànhGiảm nghèoTinThủ tướng đồng ý ban hành chuẩn nghèo mới/PublishingImages/2020-12/7c018383-e752-4881-9499-17eb3d0aac0e_Key_29122020220308.jpg
Chiều nay, 29/12, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 12/2020, chủ yếu bàn về công tác xây dựng thể chế chính sách, pháp luật. Tại phiên họp, Thủ tướng đồng ý ban hành chuẩn nghèo mới.
12/29/2020 11:00 PMYesĐã ban hành
Lãnh đạo tỉnh viếng nghĩa đồi 82Lãnh đạo tỉnh viếng nghĩa đồi 82
Sáng 21.12, tại nghĩa trang liệt sĩ Đồi 82 (xã Thạnh Tây, huyện Tân Biên), Tỉnh uỷ, HĐND, UBND, Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh tổ chức lễ viếng nghĩa trang nhân kỷ niệm 76 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22.12.1944-22.12.2020).

169_duplicate386_nt-2.jpg

Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Nguyễn Thành Tâm thắp hương tri ân

anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống cho độc lập, tự do của Tổ quốc.

Đến lễ viếng nghĩa trang có Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Nguyễn Thành Tâm; nguyên Bí thư Tỉnh uỷ Nguyễn Thị Minh, Lê Thị Bân; Phó Bí thư thường trực Tỉnh uỷ Phạm Hùng Thái; Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Ngọc; Trưởng Ban Dân vận, Chủ tịch UB.MTTQVN tỉnh Nguyễn Văn Hợp cùng lãnh đạo các sở, ban, ngành.

169_duplicate262_nt-1.jpg

Dâng hoa tưởng nhớ công ơn các anh hùng liệt sĩ.

Sau nghi thức đặt vòng hoa nhớ ơn các anh hùng liệt sỹ, Bí thư Tỉnh uỷ đã gióng 3 hồi chuông chiêu tập anh linh của các anh hùng liệt sĩ. Các đại biểu đã dành một phút mặc niệm và thắp hương tại tượng đài Tổ quốc ghi công, trên các phần mộ của các liệt sỹ - tưởng nhớ công ơn của những người con ưu tú đã ngã xuống cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc, dân tộc.

12/22/2020 10:00 AMĐã ban hànhChính sách người có côngTinLãnh đạo tỉnh viếng nghĩa đồi 82/PublishingImages/2020-12/169_duplicate386_nt-2_Key_25122020094249.jpg
Sáng 21.12, tại nghĩa trang liệt sĩ Đồi 82 (xã Thạnh Tây, huyện Tân Biên), Tỉnh uỷ, HĐND, UBND, Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh tổ chức lễ viếng nghĩa trang nhân kỷ niệm 76 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22.12.1944-22.12.2020).
12/22/2020 10:00 AMYesĐã ban hành
Chính phủ hướng dẫn 04 quy định mới về tiền lương từ 01/02/2021Chính phủ hướng dẫn 04 quy định mới về tiền lương từ 01/02/2021
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 145/2020/NĐ-CP (có hiệu lực từ 01/2/2021), trong đó hướng dẫn 04 quy định mới về tiền lương của NLĐ theo quy định tại Bộ luật lao động 2019 (có hiệu lực từ 01/01/2021) như sau:

Hình thức trả lương cho NLĐ

Về hình thức trả lương thì Điều 96 Bộ luật Lao động 2019 đã quy định 02 điểm mới sau đây so với Điều 94 Bộ luật Lao động 2012:
- NLĐ và người sử dụng lao động (sau đây gọi là doanh nghiệp) sẽ thỏa thuận về hình thức trả lương (Hiện hành doanh nghiệp có quyền quyết định hình thức trả lương).
- Trường hợp trả lương qua tài khoản cá nhân của NLĐ thì doanh nghiệp phải trả các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản và chuyển tiền lương (Hiện hành hai bên thỏa thuận về việc đối tượng nào sẽ trả các loại phí).
Với hai điểm mới này, Nghị định 145 hướng dẫn cụ thể về hình thức trả lương như sau:
Doanh nghiệp và NLĐ thỏa thuận trong hợp đồng đồng lao động (HĐLĐ) về hình thức trả lương:
- Tiền lương theo thời gian được trả cho NLĐ hưởng lương theo thời gian, căn cứ vào thời gian làm việc theo tháng, tuần, ngày, giờ theo thỏa thuận trong HĐLĐ, cụ thể:
+ Tiền lương tháng được trả cho một tháng làm việc;
+ Tiền lương tuần được trả cho một tuần làm việc. Trường hợp HĐLĐ thỏa thuận tiền lương theo tháng thì tiền lương tuân được xác định bằng tiền lương tháng nhân với 12 tháng và chia cho 52 tuần;
+ Tiền lương ngày được trả cho một ngày làm việc. Trường hợp HĐLĐ thỏa thuận tiền lương theo tháng thì tiền lương ngày được xác định bằng tiền lương tháng chia cho số ngày làm việc bình thường trong tháng theo quy định của pháp luật mà doanh nghiệp lựa chọn. Trường hợp HĐLĐ thỏa thuận tiền lương theo tuần thì tiền lương ngày được xác định bằng tiền lương tuần chia cho số ngày làm việc trong tuần theo thỏa thuận trong HĐLĐ;
+ Tiền lương giờ được trả cho một giờ làm việc. Trường hợp HĐLĐ thỏa thuận tiền lương theo tháng hoặc theo tuần hoặc theo ngày thì tiền lương giờ được xác định bằng tiền lương ngày chia cho số giờ làm việc bình thường trong ngày theo quy định tại Điều 105 của Bộ luật Lao động 2019.
- Tiền lương theo sản phẩm được trả cho NLĐ hưởng lương theo sản phẩm, căn cứ vào mức độ hoàn thành số lượng, chất lượng sản phẩm theo định mức lao động và đơn giá sản phẩm được giao.
- Tiền lương khoán được trả cho NLĐ hưởng lương khoán, căn cứ vào khối lượng, chất lượng công việc và thời gian phải hoàn thành.
Tiền lương làm thêm giờ
Khoản 1 Điều 98 Bộ luật Lao động 2019 bổ sung quy định về tiền lương làm thêm giờ vào ngày Tết  so với quy định tại Điều 97 Bộ luật lao động 2012. Ngoài ra, Luật mới căn cứ vào tiền lương thực trả cho công việc để tính tiền lương làm thêm giờ.
Cụ thể, quy định về tiền lương làm thêm giờ được hướng dẫn như sau:
(1) Đối với NLĐ hưởng lương theo thời gian, được trả lương làm thêm giờ khi làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường do doanh nghiệp quy định theo Điều 105 của Bộ luật Lao động 2019 và được tính theo công thức sau:
Tiền lương làm thêm giờ
=
Tiền lương giờ thực trả của công việc đang làm vào ngày làm việc bình thường
X
Mức ít nhất 150% hoặc 200% hoặc 300%
X
Số giờ làm thêm
Trong đó:
Tiền lương giờ thực trả của công việc đang làm vào ngày làm việc bình thường
=
Tiền lương thực trả của công việc đang làm của tháng hoặc tuần hoặc ngày mà NLĐ làm thêm giờ (T1)
:
Tổng số giờ thực tế làm việc tương ứng trong tháng hoặc tuần hoặc ngày NLĐ làm thêm giờ (T2)
Lưu ý:
+ (T1) không bao gồm tiền lương làm thêm giờ, tiền lương trả thêm khi làm việc vào ban đêm, tiền lương của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương theo quy định của Bộ luật Lao động; tiền thưởng theo quy định tại Điều 104 của Bộ luật Lao động, tiền thưởng sáng kiến; tiền ăn giữa ca, các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; hỗ trợ khi có thân nhân bị chết, NLĐ có người thân kết hôn, sinh nhật của NLĐ, bệnh nghề nghiệp và các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác không liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong HĐLĐ.
+ (T2) không quá số ngày làm việc bình thường trong tháng và số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, 01 tuần theo quy định của pháp luật mà doanh nghiệp lựa chọn và không kể số giờ làm thêm.
- Mức ít nhất bằng 150% so với tiền lương giờ thực trả của công việc đang làm vào ngày làm việc bình thường, áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày thường;
- Mức ít nhất bằng 200% số với tiền lương giờ thực trả của công việc đang làm vào ngày làm việc bình thường, áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày nghỉ hằng tuần;
- Mức ít nhất bằng 300% số với tiền lương giờ thực trả của công việc đang làm vào ngày làm việc bình thường, áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, chưa kể tiền lương của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ cố hưởng lương đối với NLĐ hưởng lương ngày.
(2) Đối với NLĐ hưởng lương theo sản phẩm
NLĐ hưởng lương theo sản phẩm, được trả lương làm thêm giờ khi làm việc ngoài thêm giờ làm việc bình thường để làm thêm số lượng, khối lượng sản phẩm ngoài số lượng, khối lượng sản phẩm theo định mức lao động theo thỏa thuận với doanh nghiệp và được tính theo công thức sau:
Tiền lương làm thêm giờ
=
Đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường
X
Mức ít nhất 150% hoặc 200% hoặc 300%
X
Số sản phẩm làm thêm
Trong đó:
- Mức ít nhất bằng 150% so với đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường, áp dụng đối với sản phẩm làm thêm vào ngày thường;
- Mức ít nhất bằng 200% so với đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường, áp dụng đối với sản phẩm làm thêm vào ngày nghỉ hằng tuần;
- Mức ít nhất bằng 300% so với đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường, áp dụng đối với sản phẩm làm thêm vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương.
Tiền lương làm việc vào ban đêm
Tương tư như tiền lương làm thêm giờ, Luật mới cũng căn cứ vào tiền lương thực trả của công việc (hiện quy định là tiền lương của công việc) để xác định tiền lương làm việc vào ban đêm.
(1) Đối với NLĐ hưởng lương theo thời gian, tiền lương làm việc vào ban đêm được tính như sau:

Chính phủ hướng dẫn 04 quy định mới về tiền lương từ 01/02/2021 - Ảnh 5.
Trong đó: Tiền lương giờ thực trả của công việc đang làm vào ngày làm việc bình thường được xác định như khi xác định tiền lương làm thêm giờ đã nêu ở trên.
(2) Đối với NLĐ hưởng lương theo sản phẩm, tiền lương làm việc vào ban đêm được tính như sau:

Chính phủ hướng dẫn 04 quy định mới về tiền lương từ 01/02/2021 - Ảnh 6.
Tiền lương làm thêm giờ vào ban đêm
(1) Đối với NLĐ hưởng lương theo thời gian, tiền lương làm thêm giờ vào ban đêm được tính như sau:

Chính phủ hướng dẫn 04 quy định mới về tiền lương từ 01/02/2021 - Ảnh 7.
Trong đó:
- Tiền lương giờ thực trả của công việc đang làm vào ngày làm việc bình thường được xác định như khi xác định tiền lương làm thêm giờ đã nêu ở trên.
- Tiền lương giờ vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương được xác định như sau:
+ Tiền lương giờ vào ban ngày của ngày làm việc bình thường, được tính ít nhất bằng 100% số với tiền lương giờ thực trả của công việc đang làm vào ngày làm việc bình thường đối với trường hợp NLĐ không làm thêm giờ vào ban ngày của ngày đó (trước khi làm thêm giờ vào ban đêm); ít nhất bằng 150% so với tiền lương giờ thực trả của công việc đang làm vào ngày làm việc bình thường đối với trường hợp NLĐ có làm thêm giờ vào ban ngày của ngày đó (trước khi làm thêm giờ vào ban đêm);
+ Tiền lương giờ vào ban ngày của ngày nghỉ hằng tuần, được tính ít nhất bằng 200% số với tiền lương giờ thực trả của công việc đang làm vào ngày làm việc bình thường;
+ Tiền lương giờ vào ban ngày của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, được tính ít nhất bằng 300% so với tiền lương giờ thực trả của công việc đang làm vào ngày làm việc bình thường.
(2) Đối với NLĐ hưởng lương theo sản phẩm, tiền lương làm thêm giờ vào ban đêm được tính như sau:

Chính phủ hướng dẫn 04 quy định mới về tiền lương từ 01/02/2021 - Ảnh 8.
Trong đó, đơn giá tiền lương sản phẩm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hàng tuần hoặc của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương được xác định như sau:
+ Đơn giá tiền lương sản phẩm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường, được tính ít nhất bằng 100% so với đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường đối với trường hợp NLĐ không làm thêm giờ vào ban ngày của ngày đó (trước khi làm thêm giờ vào ban đêm); ít nhất bằng 150% so với đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường đối với trường hợp NLĐ có làm thêm giờ vào ban ngày của ngày đó (trước khi làm thêm giờ vào ban đêm);
+ Đơn giá tiền lương sản phẩm vào ban ngày của ngày nghỉ hằng tuần, được tính ít nhất bằng 200% so với đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường;
+ Đơn giá tiền lương sản phẩm vào ban ngày của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, được tính ít nhất 300% so với đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường.
(Nguồn: Molisa.gov.vn)
12/20/2020 4:00 PMĐã ban hànhLao động - Tiền lươngTinChính phủ hướng dẫn 04 quy định mới về tiền lương từ 01/02/2021/PublishingImages/2020-12/TL_12_01_Key_28122020150653.jpg
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 145/2020/NĐ-CP (có hiệu lực từ 01/2/2021), trong đó hướng dẫn 04 quy định mới về tiền lương của NLĐ theo quy định tại Bộ luật lao động 2019 (có hiệu lực từ 01/01/2021) như sau:
12/20/2020 4:00 PMYesĐã ban hành
Quy định mới về chăm sóc sức khỏe đối với lao động nữQuy định mới về chăm sóc sức khỏe đối với lao động nữ
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động, trong đó quy định về chăm sóc sức khỏe đối với lao động nữ. 

Cụ thể, khi khám sức khỏe định kỳ, lao động nữ được khám chuyên khoa phụ sản theo danh mục khám chuyên khoa phụ sản do Bộ Y tế ban hành.

Khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện cho lao động nữ mang thai được nghỉ đi khám thai nhiều hơn quy định tại Điều 32 Luật Bảo hiểm xã hội.
Nghị định cũng quy định về việc nghỉ trong thời gian hành kinh của lao động nữ.
Theo đó, lao động nữ trong thời gian hành kinh có quyền được nghỉ mỗi ngày 30 phút vào thời giờ làm việc, và vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động. Số ngày có thời gian nghỉ trong thời gian hành kinh do hai bên thỏa thuận phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc và nhu cầu của lao động nữ nhưng tối thiểu là 3 ngày làm việc trong một tháng; thời điểm nghỉ cụ thể của từng tháng do người lao động thông báo với người sử dụng lao động.
Trường hợp lao động nữ có yêu cầu nghỉ linh hoạt hơn so với quy định thì hai bên thỏa thuận để được bố trí nghỉ phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc và nhu cầu của lao động nữ.
Trường hợp lao động nữ không có nhu cầu nghỉ và được người sử dụng lao động đồng ý để người lao động làm việc thì ngoài tiền lương được hưởng, người lao động được trả thêm tiền lương theo công việc mà người lao động đã làm trong thời gian được nghỉ và thời gian làm việc này không tính vào thời giờ làm thêm của người lao động.
Nuôi con dưới 12 tháng tuổi, nếu không nghỉ 60 phút/ngày thì được hưởng thêm lương
Ngoài ra, Nghị định cũng quy định về việc nghỉ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Theo đó, lao động nữ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi có quyền được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc để cho con bú, vắt, trữ sữa, nghỉ ngơi. Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.
Trường hợp lao động nữ có nhu cầu nghỉ linh hoạt hơn so với quy định thì người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động để được bố trí nghỉ phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc và nhu cầu của lao động nữ.
Trường hợp lao động nữ không có nhu cầu nghỉ và được người sử dụng lao động đồng ý để người lao động làm việc thì ngoài tiền lương được hưởng cho thời gian nghỉ theo quy định, người lao động được trả thêm tiền lương theo công việc mà người lao động đã làm trong thời gian được nghỉ.
Khuyến khích người sử dụng lao động lắp đặt phòng vắt, trữ sữa mẹ phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc, nhu cầu của lao động nữ và khả năng của người sử dụng lao động. Trường hợp người sử dụng lao động sử dụng từ 1000 lao động nữ trở lên thì phải lắp đặt phòng vắt, trữ sữa mẹ tại nơi làm việc.
Khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để lao động nữ nuôi con từ 12 tháng tuổi trở lên vắt, trữ sữa mẹ tại nơi làm việc. Thời gian nghỉ để vắt, trữ sữa mẹ do người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/2/2021.
(Nguồn: Molisa.gov.vn)
12/20/2020 4:00 PMĐã ban hànhViệc làmTinQuy định mới về chăm sóc sức khỏe đối với lao động nữ/PublishingImages/2020-12/Các-chế-độ-sức-khỏe-đối-với-lao-động-nữ-internet_Key_28122020151104.jpg
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động, trong đó quy định về chăm sóc sức khỏe đối với lao động nữ. 
12/20/2020 4:00 PMYesĐã ban hành
Lịch nghỉ Tết Âm lịch năm 2021 của công chức, viên chức và người lao độngLịch nghỉ Tết Âm lịch năm 2021 của công chức, viên chức và người lao động
Bộ LĐ-TBXH vừa ban hành Thông báo 4875/TB-LĐTBXH về việc nghỉ Tết Âm lịch và Quốc khánh năm 2021 đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động. Theo đó, dịp lễ Âm lịch 2021, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động được nghỉ 7 ngày; trong khi đó dịp Quốc Khánh, số ngày nghỉ là 4.

Cụ thể, trong dịp Tết Âm lịch năm Tân Sửu 2021, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động làm việc trong cơ quan nhà nước nghỉ liền 7 ngày liên tục. Cụ thể, từ thứ Tư ngày 10/2/2021 đến hết thứ Ba ngày 16/2/2021 (tức ngày 29 tháng Chạp năm Canh Tý đến ngày mùng 5 tháng Giêng năm Tân Sửu).

Trong khi đó, đối với người lao động làm việc theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì Tết Âm lịch Tân Sửu 2021 người sử dụng lao động chọn một trong hai phương án: Nghỉ 1 ngày cuối năm Canh Tý và 4 ngày đầu năm Tân Sửu, hoặc nghỉ 2 ngày cuối năm Canh Tý và 3 ngày đầu năm Tân Sửu.
Với dịp Lễ Quốc khánh (2/9/2021), cán bộ, công chức, viên chức nghỉ 4 ngày từ 2 đến hết 5/9/2021; còn đối với người lao động làm việc theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định định thì người sử dụng lao động chọn một trong hai phương án: Nghỉ 2 ngày từ ngày 1 – 2/9/2021; hoặc nghỉ 2 ngày từ ngày 2 – 3/9/2021.
Người sử dụng lao động thông báo phương án nghỉ tết Âm lịch và Quốc khánh cho người lao động trước khi thực hiện ít nhất 30 ngày.
Trước đó, ngày 26/11, Văn phòng Chính phủ cho biết, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã duyệt phương án nghỉ Tết với 5 ngày theo quy định và 2 ngày nghỉ bù, do mùng 2 và 3 Tết (tức 13 đến 14/2/2021) trùng vào thứ Bảy và Chủ nhật. Người lao động nghỉ bù mùng 4 và 5 tháng Giêng năm Tân Sửu, tức 15 đến 16/2/2021.
(Nguồn: Molisa.gov.vn)
12/19/2020 4:00 PMĐã ban hànhViệc làmTinLịch nghỉ Tết Âm lịch năm 2021 của công chức, viên chức và người lao động/PublishingImages/2020-12/lich-nghi-le-tet-2021_Key_28122020151422.png-480x280_Key_28122020151422.png
Bộ LĐ-TBXH vừa ban hành Thông báo 4875/TB-LĐTBXH về việc nghỉ Tết Âm lịch và Quốc khánh năm 2021 đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động. Theo đó, dịp lễ Âm lịch 2021, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động được nghỉ 7 ngày; trong khi đó dịp Quốc Khánh, số ngày nghỉ là 4.
12/19/2020 4:00 PMYesĐã ban hành
3 điểm mới về chính sách BHYT từ năm 20213 điểm mới về chính sách BHYT từ năm 2021
Từ năm 2021, bảo hiểm y tế (BHYT) có những chính sách mới người dân cần biết. Đó là chính sách về điều trị nội trú trái tuyến; Thẻ BHYT mới; Điều chỉnh đối tượng tham gia hộ gia đình.

Sau đây là những chính sách mới về bảo hiểm y tế có tác động lớn đến mọi người từ năm 2021.

1. Được hưởng 100% chi phí điều trị nội trú trái tuyến tỉnh
Từ ngày 1-1-2021, trường hợp người có thẻ BHYT tự đi khám chữa bệnh (KCB) không đúng tuyến được quỹ BHYT thanh toán theo mức hưởng quy định tại khoản 1 Điều 22 Luật BHYT (mức hưởng khi đi khám đúng tuyến) theo tỷ lệ sau đây:
- Tại bệnh viện tuyến trung ương là 40% chi phí điều trị nội trú;
- Tại bệnh viện tuyến tỉnh là 100% chi phí điều trị nội trú từ ngày 01/01/2021 trong phạm vi cả nước (Hiện nay chỉ được thanh toán 60% chi phí điều trị nội trú theo mức hưởng của thẻ BHYT).
-  Tại bệnh viện tuyến huyện là 100% chi phí KCB.
Vì vậy, người dân có thẻ BHYT khi đi khám, chữa bệnh trái tuyến sẽ được hưởng 100% chi phí điều trị nội trú trong phạm vi cả nước. Đồng nghĩa với đó, người bệnh có thể điều trị nội trú ở bất kì tỉnh thành nào trên cả nước cũng đều được quỹ BHYT thanh toán toàn bộ chi phí khám chữa bệnh.
2.Sử dụng mẫu thẻ BHYT mới 
 Căn cứ Quyết định 1666/QĐ-BHXH của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, mẫu thẻ BHYT mới sẽ được sử dụng thống nhất trên phạm vi cả nước từ ngày 01/4/2021. Tuy nhiên, thẻ BHYT đã cấp còn thời hạn sử dụng trước ngày này thì người dân tiếp tục được dùng để khám chữa bệnh BHYT.
Mẫu thẻ BHYT mới được đánh giá là có nhiều ưu điểm so với mẫu thẻ BHYT giấy đã sử dụng hiện nay. Cụ thể:
Kích thước nhỏ hơn, được ép plastic sau khi in để người dân dễ dàng đem theo cũng như bảo quản; Mã số thẻ ngắn gọn với 10 ký tự (thẻ BHYT hiện nay là 14 chữ số) giúp thực hiện các thủ tục nhanh chóng; Thêm thông tin nơi cấp, nơi đổi thẻ để người dân tiết kiệm thời gian tìm kiếm nơi cấp, đổi thẻ; Bỏ thông tin về địa chỉ cư trú trên thẻ BHYT, thẻ BHYT của trẻ dưới 06 tuổi không còn ghi tên cha, mẹ…
Đặc biệt, mặt sau của thẻ BHYT đã thay đổi phần lớn nội dung so với mẫu thẻ BHYT hiện hành để người tham gia tiện tra cứu thông tin sử dụng thẻ…
3/ Từ 01/07/2021, điều chỉnh đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình
Nội dung này được đề cập tại Luật Cư trú 2020, sẽ có hiệu lực từ ngày 01/7/2021. Theo đó, khoản 2 Điều 38 Luật Cư trú sửa đổi khoản 7 Điều 2 Luật Bảo hiểm y tế 2008 (sửa đổi năm 2013, 2014, 2015 và 2018) như sau:
Có thể thấy, đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình từ ngày 01/7/2021 là những người cùng đăng ký thường trú hoặc cùng đăng ký tạm trú tại một chỗ ở hợp pháp, thay vì có tên cùng Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú như hiện nay.
Quy định này xuất phát từ việc Sổ hộ khẩu và Sổ tạm trú chỉ được sử dụng đến hết ngày 31/12/2022. Đồng thời, cơ quan đăng ký cư trú cũng sẽ không cấp mới, cấp lại Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú mà thực hiện điều chỉnh, cập nhật thông tin của công dân trên Cơ sở dữ liệu về cư trú.
(Nguồn: Molisa.gov.vn)
12/18/2020 4:00 PMĐã ban hànhGiảm nghèoTin3 điểm mới về chính sách BHYT từ năm 2021/PublishingImages/2020-12/thebaohiemyte-1601803532551_1512122632_Key_28122020151634.jpg
Từ năm 2021, bảo hiểm y tế (BHYT) có những chính sách mới người dân cần biết. Đó là chính sách về điều trị nội trú trái tuyến; Thẻ BHYT mới; Điều chỉnh đối tượng tham gia hộ gia đình.
12/18/2020 4:00 PMYesĐã ban hành
Điểm mới về trả lương qua thẻ ATM cho người lao động từ năm 2021Điểm mới về trả lương qua thẻ ATM cho người lao động từ năm 2021
Bộ luật Lao động 2019 có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2021. Tại Khoản 2 Điều 96 Bộ luật Lao động 2019 quy định: 

- Lương được trả bằng tiền mặt hoặc trả qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng.

- Trường hợp trả lương qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng thì người sử dụng lao động phải trả các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản và chuyển tiền lương.
Như vậy, theo quy định trên thì từ năm 2021, người sử dụng lao động có trách nhiệm phải chi trả các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản và chuyển tiền lương cho người lao động nếu người sử dụng lao động trả lương cho người lao động qua tài khoản cá nhân của người lao động mở tại ngân hàng.
Ngoài ra, theo quy định tại Bộ luật Lao động 2019, khi trả lương, người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động; trường hợp người lao động không thể nhận lương trực tiếp thì người sử dụng lao động có thể trả lương cho người được người lao động ủy quyền hợp pháp.
Trong trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày.
Nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 1 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương..


11/26/2020 9:00 PMĐã ban hànhLao động - Tiền lươngTinĐiểm mới về trả lương qua thẻ ATM cho người lao động từ năm 2021/PublishingImages/2020-11/rut-tien-atm-15762968994331446544904_Key_26112020203531.jpg
Bộ luật Lao động 2019 có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2021. Tại Khoản 2 Điều 96 Bộ luật Lao động 2019 quy định: 

11/26/2020 9:00 PMYesĐã ban hành
Quốc hội "chốt" chưa điều chỉnh mức lương cơ sở, chuẩn nghèo năm 2021Quốc hội "chốt" chưa điều chỉnh mức lương cơ sở, chuẩn nghèo năm 2021
Quốc hội quyết năm 2021, tổng mức vay của ngân sách Nhà nước là 608.569 tỷ đồng; đồng thời “chưa thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở, chuẩn nghèo”.

Chiều nay (12/11), với tỷ lệ tán thành lên 92,53%, Quốc hội đã chính thức thông qua Nghị quyết về dự toán ngân sách nhà nước năm 2021.

Theo Nghị quyết, năm 2021, tổng thu ngân sách Nhà nước là 1.343.330 tỷ đồng, tổng chi là 1.687.000 tỷ đồng. Tổng mức vay của ngân sách Nhà nước là 608.569 tỷ đồng.
Mức bội chi ngân sách Nhà nước là 343.670 tỷ đồng, tương đương 4% tổng sản phẩm trong nước (GDP). Trong đó, bội chi ngân sách Trung ương là 318.870 tỷ đồng (tương đương 3,7% GDP); bội chi ngân sách địa phương là 24.800 tỷ đồng (tương đương 0,3% GDP).
Tập trung nguồn lực chống Covid-19, khắc phục hậu quả thiên tai
Quốc hội thống nhất, trong năm 2020, không thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hàng tháng và trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng. Tập trung nguồn lực để phòng, chống dịch Covid-19, khắc phục hậu quả thiên tai.
Năm 2021 cũng chưa thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở, chuẩn nghèo. Các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương tiếp tục thực hiện các quy định hiện hành về tạo nguồn cải cách tiền lương.
Riêng những địa phương đã có cam kết đảm bảo nhu cầu cải cách tiền lương và chính sách an sinh xã hội đến hết năm 2020, trường hợp dự toán năm 2021 thiếu nguồn sẽ được ngân sách Trung ương bổ sung có mục tiêu để thực hiện chính sách tiền lương và các chính sách an sinh xã hội theo các chế độ quy định.
Các địa phương có điều tiết về ngân sách Trung ương, trường hợp xác định bảo đảm nguồn kinh phí cải cách tiền lương và thực hiện các chính sách an sinh xã hội cho cả lộ trình đến năm 2025, không đề nghị ngân sách Trung ương hỗ trợ thì được phép báo cáo Thủ tướng xem xét, quyết định việc sử dụng nguồn làm lương còn dư để đầu tư các dự án đầu tư phát triển theo quy định tại Nghị quyết số 86/2019/QH14.
Sẽ ưu tiên tăng lương hưu cho người nghỉ trước năm 1995 sau tổng kết
Trong quá trình thảo luận về ngân sách Nhà nước, một số đại biểu Quốc hội đề nghị điều chỉnh lương hưu đối với người nghỉ hưu trước năm 1993, rà soát các nội dung về chưa điều chỉnh tiền lương năm 2020, 2021 và chưa điều chỉnh chuẩn nghèo.
Trình bày báo cáo giải trình trước khi Quốc hội biểu quyết thông qua, Chủ nhiệm Uỷ ban Tài chính Ngân sách Nguyễn Đức Hải cho hay, Kết luận số 91 của Hội nghị Trung ương 13 quy định “trong năm 2021 chưa điều chỉnh lương cơ sở, chưa điều chỉnh chuẩn nghèo”.
Báo cáo của Chính phủ cũng cho thấy, năm 2020 hụt thu khoảng 190 nghìn tỷ đồng so với dự toán; dự toán thu cân đối ngân sách năm 2021 giảm trên 170 nghìn tỷ đồng so với dự toán năm 2020.
Vì vậy, “chưa cân đối được nguồn để thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở, lương hưu, trợ cấp xã hội và trợ cấp hàng tháng (đối tượng do ngân sách bảo đảm), trợ cấp ưu đãi người có công trong năm 2020 và năm 2021, cũng như điều chỉnh chuẩn nghèo cho giai đoạn tới”.
Về việc ưu tiên điều chỉnh mức tăng trợ cấp người có công, lương hưu và trợ cấp cho những người nghỉ hưu trước năm 1995, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho rằng “cần thiết”. Song cần tổng kết về số lượng, phạm vi, mức hỗ trợ để xây dựng dự kiến kinh phí bố trí cũng như bảo đảm chính sách hỗ trợ lâu dài, phù hợp với khả năng ngân sách Nhà nước.
Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính phủ sớm có tổng kết, đánh giá và xây dựng phương án điều chỉnh phù hợp, báo cáo Quốc hội theo hướng ưu tiên hơn cho đối tượng trên trong thời gian tới.
Cũng trong Nghị quyết mới được thông qua, Quốc hội giao Chính phủ thực hiện một số biện pháp điều hành nhiệm vụ tài chính - ngân sách nhà nước năm 2021. 
Theo đó, Quốc hội giao Chính phủ tiếp tục tập trung chỉ đạo quyết liệt công tác quản lý thu ngân sách nhà nước; chống thất thu thuế, chống chuyển giá, trốn thuế; giảm tỷ lệ nợ thuế; mở rộng triển khai hóa đơn điện tử; cải cách, hiện đại hóa hệ thống cơ quan thuế, hải quan, kho bạc nhà nước; 
Thực hiện nghiêm quy định về đấu giá khi thực hiện bán, chuyển nhượng, cho thuê tài sản công, giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, pháp luật về đất đai; đẩy nhanh công tác cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp theo Đề án đã được phê duyệt.
Nghị quyết thông qua dự toán Ngân sách Nhà nước năm 2021, cụ thể:
1. Tổng số thu ngân sách nhà nước là 1.343.330 tỉ đồng.
2. Tổng số chi ngân sách nhà nước là 1.687.000 tỉ đồng.
3. Mức bội chi ngân sách nhà nước là 343.670 tỉ đồng, tương đương 4% tổng sản phẩm trong nước (GDP), gồm:
Bội chi ngân sách trung ương là 318.870 tỉ đồng, tương đương 3,7%GDP;
Bội chi ngân sách địa phương là 24.800 tỉ đồng tương đương 0,3%GDP.
4. Tổng mức vay của ngân sách nhà nước là 608.569 tỉ đồng.


11/14/2020 9:00 PMĐã ban hànhGiảm nghèoTinQuốc hội "chốt" chưa điều chỉnh mức lương cơ sở, chuẩn nghèo năm 2021/PublishingImages/2020-11/3-16051735009812010740262-crop-16051735078072119891572_Key_26112020203846.jpg
Quốc hội quyết năm 2021, tổng mức vay của ngân sách Nhà nước là 608.569 tỷ đồng; đồng thời “chưa thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở, chuẩn nghèo”.
11/14/2020 9:00 PMYesĐã ban hành
Tổ chức Hội nghị tập huấn sử dụng phần mềm quản lý cán bộ, công chức, viên chức; Hướng dẫn tạo tài khoản Cổng Dịch vụ công Quốc gia; Tuyên truyền Cải cách hành chínhTổ chức Hội nghị tập huấn sử dụng phần mềm quản lý cán bộ, công chức, viên chức; Hướng dẫn tạo tài khoản Cổng Dịch vụ công Quốc gia; Tuyên truyền Cải cách hành chính

     Thực hiện Công văn số 2277/UBND-VHXH ngày 22/9/2020 của UBND tỉnh về việc triển khai phần mềm quản lý cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh. Ngày 23/10/2020, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức buổi tập huấn về công tác sử dụng phần mềm quản lý cán bộ, công chức, viên chức; Hướng dẫn tạo tài khoản Cổng Dịch vụ công Quốc gia; Tuyên truyền Cải cách hành chính đến các công chức, viên chức.

    z2140894920080_75da643cd3eef24528c2ffc9cc59588b.jpg

Chuyên viên CNTT - Văn phòng Sở hướng dẫn tạo tài khoản trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia

     Tại Buổi tập huấn, các công chức, viên chức đã được triển khai nhập liệu thông tin cá nhân công chức, viên chức lên phần mềm công chức, viên chức và hướng dẫn tạo tài khoản trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia. Bên cạnh đó, còn lồng ghép tuyên truyền Cải cách hành chính như DVC mức độ 4 của ngành LĐTBXH, cách thức nộp hồ sơ, kiến nghị trên MXH Zalo,...

    Qua buổi tập huấn, các đại biểu tham dự cơ bản nắm được cách sử dụng các phần mềm, tạo tài khoản, nộp hồ sơ trên Cổng dịch vụ công Quốc gia, Cổng Dịch vụ công của tỉnh./.



10/25/2020 5:00 PMĐã ban hànhPhòng, chống tệ nạn xã hộiTinTổ chức Hội nghị tập huấn sử dụng phần mềm quản lý cán bộ, công chức, viên chức; Hướng dẫn tạo tài khoản Cổng Dịch vụ công Quốc gia; Tuyên truyền Cải cách hành chính/PublishingImages/2020-11/z2140894920079_bf9d2e634141eb8f2f346db2b38ee95e_Key_09112020161943.jpg
10/25/2020 5:00 PMYesĐã ban hành
Đoàn đại biểu dự Đại hội viếng Đài tưởng niệm Anh hùng Liệt sĩĐoàn đại biểu dự Đại hội viếng Đài tưởng niệm Anh hùng Liệt sĩ
 Sáng nay (14.10), trước khi bước vào phiên trù bị Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020-2025, Đoàn đại biểu tham dự Đại hội đã đến viếng, thắp hương các anh hùng, liệt sĩ tại Đài tưởng niệm Anh hùng Liệt sĩ (phường Ninh Sơn, thành phố Tây Ninh).


Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020 dâng hương tại Đài tưởng niệm Anh hùng Liệt sĩ.


Đại biểu tham dự lễ viếng.

Tham dự lễ viếng có ông Nguyễn Thành Tâm-Bí thư Tỉnh uỷ, ông Nguyễn Thanh Ngọc-Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh cùng 350 đại biểu đại diện cho gần 37.000 đảng viên toàn tỉnh.


Ông Phạm Hùng Thái-Uỷ viên Ban Thường vụ Trực Tỉnh uỷ, 

Trưởng Ban Nội chính Tỉnh uỷ phát biểu tại lễ viếng Đài tưởng niệm Anh hùng Liệt sĩ.

Phát biểu tại lễ viếng, ông Phạm Hùng Thái- Uỷ viên Ban Thường vụ Trực Tỉnh uỷ, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh uỷ nêu rõ, trong không khí phấn khởi của Đảng bộ và Nhân dân tỉnh nhà trước thềm Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, hướng tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng, phấn khởi, tự hào với những thành tựu đạt được hôm nay, với niềm vui đất nước, quê hương được độc lập, thống nhất, tự do, hạnh phúc và đang ngày phát triển, chúng ta càng trân trọng, biết ơn các anh hùng, liệt sĩ- những người con của dân tộc đã quên mình vì Tổ quốc, làm nên những trang sử hào hùng, cho quên hương, đất nước tươi đẹp hôm nay.


Ông Phạm Hùng Thái nhấn mạnh, trong tâm khảm mỗi đại biểu về dự Đại hội hôm nay và toàn thể cán bộ, đảng viên, các tầng lớp Nhân dân tỉnh nhà luôn khắc ghi sự hy sinh to lớn của thế hệ cha anh “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.


Đại biểu thắp hương tại Đài tưởng niệm Anh hùng Liệt sĩ.

Để xứng đáng với sự hy sinh cao cả và công lao to lớn đó, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân Tây Ninh xin hứa sẽ tiếp nối truyền thống anh hùng, tiếp tục sự nghiệp cách mạng trong giao đoạn mới; Chung sức, đồng lòng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc, quyết tâm gìn giữ và xây dựng quê hương Tây Ninh ngày càng giàu đẹp.


Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Ngọc thắp hương trước Bia ghi danh Anh hùng, Liệt sĩ tỉnh Tây Ninh


Toàn cảnh lễ viếng Đài tưởng niệm Anh hùng Liệt sĩ.


Đoàn nghi lễ Quân đội phục vụ tại lễ dâng hương tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ.



Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020 dâng hương tại Đài tưởng niệm Anh hùng Liệt sĩ.


Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Nguyễn Thành Tâm thắp hương thắp hương trước Bia ghi danh Anh hùng, Liệt sĩ tỉnh Tây Ninh.


Đại biểu dự Đại hội thắp hương tại Đài tưởng niệm Anh hùng Liệt sĩ.

Sau lễ viếng và dâng hương, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020-2025 khai mạc phiên trù bị lúc 7 giờ 30 phút ngày 14.10.2020.

(nguồn: Baotayninh.vn)




10/14/2020 2:00 PMĐã ban hànhChính sách người có côngTinĐoàn đại biểu dự Đại hội viếng Đài tưởng niệm Anh hùng Liệt sĩ/PublishingImages/2020-10/hth00038_Key_14102020134051.jpg
 Sáng nay (14.10), trước khi bước vào phiên trù bị Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020-2025, Đoàn đại biểu tham dự Đại hội đã đến viếng, thắp hương các anh hùng, liệt sĩ tại Đài tưởng niệm Anh hùng Liệt sĩ (phường Ninh Sơn, thành phố Tây Ninh).
10/14/2020 2:00 PMYesĐã ban hành
HẦU HẾT CÁC CƠ SỞ GDNN TUYỂN SINH ĐẠT VÀ VƯỢT CHỈ TIÊUHẦU HẾT CÁC CƠ SỞ GDNN TUYỂN SINH ĐẠT VÀ VƯỢT CHỈ TIÊU
Trong 9 tháng qua, dịch bệnh Covid-19 làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, trong đó có hoạt động giáo dục nghề nghiệp. Tuy vậy, ngay từ những tháng đầu năm bằng sự nỗ lực, quyết tâm cao của các cơ sở GDNN và sự quan tâm chỉ đạo sâu sát, thường xuyên của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, công tác đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.

Theo số liệu báo cáo của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tính đến tháng 9 năm 2020 toàn tỉnh đã tổ chức tuyển sinh, đào tạo được 7.884/8.261 người, đạt tỷ lệ 95% so với kế hoạch; trong đó: tuyển sinh trình độ cao đẳng được 293/215 chỉ tiêu, đạt 136%; trình độ trung cấp 1.768/2.060 đạt 86%; trình độ sơ cấp 5.823/5.986 đạt 97%; đào tạo nghề cho lao động nông thôn được 50 lớp với 1.655/3.560 lao động, so kế hoạch đạt 46%. Như vậy, so với kế hoạch tuyển sinh đến nay một số trường đã đạt và vượt chỉ tiêu như: Trường Cao đẳng nghề Tây Ninh, Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Tây Ninh, Trung tâm dạy nghề lái xe Thành Đạt, Trung tâm đào tạo lái xe ô tô Tây Ninh, Trung tâm DVVL Tây Ninh và Trung tâm GDNN-GDTX thị xã Hòa Thành. Trường Trung cấp Y tế Tây Ninh tuyển sinh đạt khoảng 70%, Trường Trung cấp Á Châu đạt 80%. Riêng Trường Trung cấp Tân Bách Khoa chưa tuyển sinh được. Từ nay đến cuối năm 2020 các trường chưa đạt chỉ tiêu tuyển sinh có thể huy động nguồn lực, đề ra các giải pháp để thu hút các em học sinh tốt nghiệp THCS không học tiếp lên THPT cũng như các em học sinh tốt nghiệp THPT không đủ điểm xét tuyển vào các trường đại học, cao đẳng đăng ký vào học giáo dục nghề nghiệp.

Từ năm 2015 đến nay, Chính phủ đã ban hành chính sách miễn, giảm học phí cho các đối tượng theo học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Theo đó, học sinh tốt nghiệp THCS học tiếp lên trình độ trung cấp (hệ chính quy) được miễn học phí và không quy định thời gian cụ thể sau bao lâu kể từ ngày tốt nghiệp THCS đi học tiếp lên trình độ trung cấp. Mới đây, Bộ LĐTBXH trả lời kiến nghị của cử tri Tây Ninh gửi tới trước kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV cho biết: để được hưởng chính sách miễn học phí thì trước khi tham gia khóa đào tạo trình độ trung cấp, học sinh tốt nghiệp THCS chưa tham gia bất kỳ khóa đào tạo trình độ trung học phổ thông, sơ cấp hoặc trung cấp khác.

                                                                                                                                                        Phòng DN-LĐVLATLĐ


10/5/2020 5:00 PMĐã ban hànhDạy nghềTinHẦU HẾT CÁC CƠ SỞ GDNN TUYỂN SINH ĐẠT VÀ VƯỢT CHỈ TIÊU/PublishingImages/2020-10/DN_tuyensinhvuotchitieu2020_Key_05102020164128.jpg
Trong 9 tháng qua, dịch bệnh Covid-19 làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, trong đó có hoạt động giáo dục nghề nghiệp. Tuy vậy, ngay từ những tháng đầu năm bằng sự nỗ lực, quyết tâm cao của các cơ sở GDNN và sự quan tâm chỉ đạo sâu sát, thường xuyên của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, công tác đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.
10/5/2020 5:00 PMYesĐã ban hành
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước gửi thư chúc Tết Trung thu cho các cháu thiếu niên, nhi đồngTổng Bí thư, Chủ tịch nước gửi thư chúc Tết Trung thu cho các cháu thiếu niên, nhi đồng
Nhân dịp Tết Trung thu 2020, ngày 28/9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã có thư gửi các cháu thiếu niên, nhi đồng Việt Nam ở trong nước, các cháu trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và các cháu người nước ngoài ở Việt Nam. Cổng TTĐT Bộ LĐ-TBXH trân trọng giới thiệu toàn văn bức thư:

Thu-tong-bi-thu,-chu-tich-nuoc-gui-tre-em 2020.jpg

9/28/2020 9:00 AMĐã ban hànhBảo vệ, chăm sóc trẻ emTinTổng Bí thư, Chủ tịch nước gửi thư chúc Tết Trung thu cho các cháu thiếu niên, nhi đồng/PublishingImages/2020-10/Thu-tong-bi-thu,-chu-tich-nuoc-gui-tre-em 2020_Key_02102020083711.jpg
Nhân dịp Tết Trung thu 2020, ngày 28/9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã có thư gửi các cháu thiếu niên, nhi đồng Việt Nam ở trong nước, các cháu trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và các cháu người nước ngoài ở Việt Nam. Cổng TTĐT Bộ LĐ-TBXH trân trọng giới thiệu toàn văn bức thư:
9/28/2020 9:00 AMYesĐã ban hành
Tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác giảm nghèo năm 2020Tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác giảm nghèo năm 2020
Ngày 22.9, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp Công ty Cổ phần Pro Phương Nam tổ chức lớp tập huấn “Nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác giảm nghèo năm 2020”. Ông Nguyễn Xuân Châu – Chuyên viên cao cấp, nguyên Vụ trưởng, Chánh văn phòng điều phối Chương trình 135 của Ủy ban Dân tộc khu vực phía Nam làm báo cáo viên

Nội dung tập huấn gồm: Quy trình kiểm tra thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững; quy trình giám sát, đánh giá thực hiện Chương trình; mẫu báo cáo kiểm tra và giám sát, đánh giá thực hiện Chương trình; mẫu biểu thu thập thông tin…

Ngoài ra, các cán bộ tham gia lớp tập huấn còn được chia sẻ những kinh nghiệm giảm nghèo hiệu quả của các địa phương trên cả nước; thảo luận, đóng góp ý kiến về công tác giảm nghèo trong quá trình thực hiện công tác tại địa phương.


Taphuangiamngheo_BTXH_23.9.jpg

Các đại biểu tham gia lớp tập huấn.

Taphuangiamngheo_BTXH_23.9 3.jpg

Báo cáo viên triển khai

Thông qua lớp tập huấn nhằm giúp cho cán bộ làm công tác giảm nghèo cấp tỉnh, huyện, xã và ấp nhận thức đầy đủ về Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh, từ đó xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện có hiệu quả chương trình này tại địa phương; hướng dẫn và kiến nghị giải quyết những vướng mắc của các đơn vị, địa phương trong tổ chức thực hiện Chương trình.

Theo kế hoạch, đợt tập huấn được thực hiện trong 6 ngày, chia thành nhiều lớp, mỗi lớp gồm 3 đơn vị cấp huyện, tập huấn trong thời gian 2 ngày.

(Nguồn: Baotayninh.vn)

9/23/2020 5:00 PMĐã ban hànhGiảm nghèoTinTập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác giảm nghèo năm 2020/PublishingImages/2020-09/Taphuangiamngheo_BTXH_23_Key_23092020161344.9 2_Key_23092020161344.jpg
Ngày 22.9, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp Công ty Cổ phần Pro Phương Nam tổ chức lớp tập huấn “Nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác giảm nghèo năm 2020”. Ông Nguyễn Xuân Châu – Chuyên viên cao cấp, nguyên Vụ trưởng, Chánh văn phòng điều phối Chương trình 135 của Ủy ban Dân tộc khu vực phía Nam làm báo cáo viên
9/23/2020 5:00 PMYesĐã ban hành
Ban điều phối Dự án DISTINCT tỉnh họp triển khai nhiệm vụ quý IVBan điều phối Dự án DISTINCT tỉnh họp triển khai nhiệm vụ quý IV
Ngày 22.9, tại Sở Lao động Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH), Ban điều phối Dự án “Tăng cường năng lực Mạng lưới dịch vụ và trị liệu cho trẻ em khuyết tật” (gọi tắt là Dự án DISTINCT) phụ trách tỉnh Tây Ninh tổ chức cuộc họp quý IV năm 2020. Tham dự có bà Trần Thị Lan–Phó Giám đốc Sở LĐ-TB&XH, ông Trần Văn Sỹ–Phó Giám đốc Sở Y tế cùng đại diện các sở, ngành, hội, đoàn thể tỉnh có liên quan.

Dự án DISTINCT do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa kỳ USAID tài trợ, được triển khai bởi Trung tâm Phát triển Sức khỏe bền vững (VietHealth) trên địa bàn 3 tỉnh Bình Phước, Đồng Nai và Tây Ninh.

Tại Tây Ninh, dự án được triển khai từ tháng 8.2016 với các đối tác chính là Sở LĐ-TB&XH, Sở Y tế, Sở Giáo dục và Đào tạo. Mục tiêu chung của Dự án là nâng cao chất lượng cuộc sống cho trẻ em khuyết tật từ 0-6 tuổi và gia đình thông qua việc áp dụng toàn diện mô hình Phát hiện sớm, Can thiệp sớm (PHS-CTS) với các dịch vụ y tế, giáo dục và hòa nhập cộng đồng.

Trong đó, mục tiêu cụ thể là tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ chủ chốt và PHS-CTS cho trẻ khuyết tật từ 0-6 tuổi; triển khai thành công mô hình PHS-CTS cho trẻ khuyết tật 0-6 tuổi tại Tây Ninh; Nâng cao nhận thức cộng đồng về khuyết tật trẻ em và các hoạt độngPHS-CTS; nhân rộng mô hình PHS-CTS ở cấp tỉnh và cấp quốc gia.

BandieuphoiDISTICE1.jpg

Các đại biểu tham gia cuộc họp.

Sau hơn 4 năm triển khai thực hiện, tỉnh Tây Ninh đã có hàng ngàn lượt cán bộ, nhân viên và giáo viên các ngành Giáo dục, Y tế và LĐ-TB&XH được đào tạo nâng cao nhận thức về khuyết tật trẻ em, năng lực về khám/đánh giá cho trẻ khuyết tật vận động và khuyết tật trí tuệ; kỹ năng trong thực hành can thiệp cho trẻ khuyết tật từ 0-6 tuổi..v..vv....

Đặc biệt, hơn 89.413 trẻ được sàng lọc, hơn 4.932 trẻ được khám/đánh giá và 2.218 trẻ được chỉ định can thiệp ở các lĩnh vực khác nhau; 1.809 trẻ khuyết tật nhận được các dịch vụ can thiệp về giáo dục đặt biệt, phục hồi chức năng, chuyển tuyến và hỗ trợ dụng cụ; 553 trẻ được đánh giá với kết quả tiến bộ và được đóng ca do không còn nhu cầu… Ngoài ra, còn có 2.307 lượt phụ huynh/người chăm sóc trẻ được tập huấn, hỗ trợ kỹ thuật và tư vấn can thiệp tại nhà.

Tại cuộc họp, Ban điều phối Dự án DISTINCT Tây Ninh đã có một số đề xuất để Dự án được triển khai thực hiện tốt hơn trong quý IV năm 2020 và triển khai kế hoạch hoạt động năm 2021 (năm tài chính từ tháng 10.2020 đến tháng 9.2021). Trong đó, Ban điều phối Dự án cũng khuyến nghị 3 đơn vị đối tác chính là Sở LĐ-TB&XH, Sở Y tế, Sở Giáo dục và Đào tạo hỗ trợ tích cực trong việc góp ý xin gia hạn thời gian thực hiện Dự án đến tháng 9.2022, theo kế hoạch Dự án sẽ kết thúc vào năm 2021.

(Nguồn: Baotayninh.vn)



9/23/2020 5:00 PMĐã ban hànhBảo trợ xã hộiTinBan điều phối Dự án DISTINCT tỉnh họp triển khai nhiệm vụ quý IV/PublishingImages/2020-09/BandieuphoiDISTICE12_Key_24092020211856.jpg
Ngày 22.9, tại Sở Lao động Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH), Ban điều phối Dự án “Tăng cường năng lực Mạng lưới dịch vụ và trị liệu cho trẻ em khuyết tật” (gọi tắt là Dự án DISTINCT) phụ trách tỉnh Tây Ninh tổ chức cuộc họp quý IV năm 2020. Tham dự có bà Trần Thị Lan–Phó Giám đốc Sở LĐ-TB&XH, ông Trần Văn Sỹ–Phó Giám đốc Sở Y tế cùng đại diện các sở, ngành, hội, đoàn thể tỉnh có liên quan.
9/23/2020 5:00 PMYesĐã ban hành
Giai đoạn 2016-2020: Tỷ lệ hộ nghèo hằng năm giảm 1,3%Giai đoạn 2016-2020: Tỷ lệ hộ nghèo hằng năm giảm 1,3%
Trong giai đoạn này, thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn ước đến cuối năm 2020 đạt 50 triệu đồng/người, tăng 13,4 triệu đồng/người so với năm 2016 (36,6 triệu đồng/người); tỷ lệ hộ nghèo hằng năm giảm 1,3%; tỷ lệ người dân tham gia BHYT đạt 90%; tỷ lệ hộ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh đạt 99%.

GN_18.9.2020.jpg

Thu hoạch khóm ở Bến Cầu. Ảnh: Công Danh

      Theo UBND tỉnh, trong giai đoạn 2016-2020, Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) xây dựng nông thôn mới (NTM) và các chương trình phát triển nông thôn khác trên địa bàn được tỉnh quan tâm thực hiện có hiệu quả.

     Trong đó, Chương trình MTQG xây dựng NTM được triển khai mạnh mẽ, từng bước thúc đẩy phát triển hạ tầng kinh tế xã hội, kinh tế nông thôn, giúp bộ mặt nông thôn từng bước thay đổi, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống kinh tế - văn hoá của người dân nông thôn. Ước đến năm 2020, có 45/71 xã đạt chuẩn NTM, đạt 63,4%. Thành phố Tây Ninh và thị xã Hoà Thành hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM.

Kết cấu hạ tầng nông thôn được quan tâm đầu tư; các đề án, dự án, các chính sách trên lĩnh vực phát triển nông nghiệp được chú trọng xây dựng.            Toàn tỉnh đã xây dựng, nâng cấp trên 1.246km đường giao thông nông thôn; bê tông hoá 86km kênh nội đồng (kênh tưới) phục vụ sản xuất; đầu tư cải tạo, nâng cấp, sửa chữa và xây dựng mới 79 công trình điện nông thôn; xây dựng 233 trường học đạt chuẩn quốc gia về cơ sở vật chất; xây dựng, nâng cấp 38 Trung tâm Văn hoá - Thể thao và Học tập cộng đồng xã, 251 nhà văn hoá ấp đạt chuẩn quy định; cải tạo, nâng cấp 18 chợ nông thôn; hỗ trợ nâng cấp 36 trạm truyền thanh xã và trang bị cho các cụm truyền thanh không dây ở các ấp... tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống kinh tế - văn hoá của người dân nông thôn.

    Quá trình cơ cấu lại nông nghiệp luôn được tỉnh chú trọng gắn với xây dựng NTM như phát triển kết cấu hạ tầng với quy hoạch vùng sản xuất, chuyển đổi sản xuất, góp phần nâng cao giá trị gia tăng.

    Trong giai đoạn này, thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn ước đến cuối năm 2020 đạt 50 triệu đồng/người, tăng 13,4 triệu đồng/người so với năm 2016 (36,6 triệu đồng/người); tỷ lệ hộ nghèo hằng năm giảm 1,3%; tỷ lệ người dân tham gia BHYT đạt 90%; tỷ lệ hộ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh đạt 99%.

     Tính từ năm 2016 đến 31.12.2019, Chương trình giảm nghèo bền vững đã thực hiện 102 dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, 41 dự án nhân rộng mô hình cho các xã thuộc Chương trình 135 và các xã ngoài chương trình với tổng kinh phí được giải ngân gần 20,3 tỷ đồng, đạt 91% kế hoạch. Tổng số hộ được hỗ trợ là 2.962 hộ nghèo, cận nghèo và mới thoát nghèo (trong đó có 93 hộ nghèo và cận nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số. Kết quả, có 423 hộ được hỗ trợ đã thoát nghèo).

      Trong giai đoạn 2016-2020, các huyện, thị xã, thành phố đã tổ chức đào tạo nghề nông nghiệp ngắn hạn cho lao động nông thôn được 446 lớp với 14.214 học viên. Trong đó, số lao động nữ là 6.704 người, chiếm tỷ lệ 47%; số thanh niên tham gia học nghề là 4.403 người, chiếm tỷ lệ 30,9%). Bình quân có 2.843 học viên/năm với 33 nghề nông nghiệp.

(Nguồn: Baotayninh.vn)


9/18/2020 10:00 AMĐã ban hànhGiảm nghèoTinGiai đoạn 2016-2020: Tỷ lệ hộ nghèo hằng năm giảm 1,3%/PublishingImages/2020-09/GN_18_Key_18092020090212.9_Key_18092020090212.2020_Key_18092020090212.jpg
Trong giai đoạn này, thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn ước đến cuối năm 2020 đạt 50 triệu đồng/người, tăng 13,4 triệu đồng/người so với năm 2016 (36,6 triệu đồng/người); tỷ lệ hộ nghèo hằng năm giảm 1,3%; tỷ lệ người dân tham gia BHYT đạt 90%; tỷ lệ hộ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh đạt 99%.
9/18/2020 10:00 AMYesĐã ban hành
Đề xuất 2 phương án nghỉ Tết Nguyên đán 2021Đề xuất 2 phương án nghỉ Tết Nguyên đán 2021
Bộ LĐ-TBXH có tờ trình gửi Chính phủ về việc nghỉ lễ, Tết năm 2021 đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động.

Về ngày nghỉ Tết Nguyên đán: Bộ LĐ-TBXH trình hai phương án cho dịp nghỉ Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021 như sau:

Phương án 1 gồm nghỉ hai ngày trước Tết, ba ngày sau Tết
Công chức, viên chức nghỉ Tết Nguyên đán là 7 ngày liên tục. Do ngày mùng 2 và mùng 3 Tết Âm lịch (tức ngày 13-14/2/2021 dương lịch) trùng vào thứ bảy và chủ nhật là ngày nghỉ hằng tuần, công chức, viên chức sẽ nghỉ bù vào ngày mùng 4 và mùng 5 Tết Âm lịch (tức ngày 15-16/2/2021 dương lịch).
Phương án 2 nghỉ Tết theo lịch “một ngày cuối năm Canh Tý và bốn ngày đầu năm Tân Sửu” và không hoán đổi ngày nghỉ.
Công chức, viên chức nghỉ Tết Âm lịch 7 ngày liên tục. Do ngày mùng 2 và mùng 3 Tết Âm lịch (tức ngày 13-14/2/2021 dương lịch) trùng vào thứ bảy và chủ nhật là ngày nghỉ hằng tuần, công chức, viên chức sẽ nghỉ bù vào ngày mùng 5 và mùng 6 Tết Âm lịch (tức ngày 16-17/2/2021 dương lịch).
Bộ LĐ-TBXH đề xuất Thủ tướng chọn phương án 1, với lý do vì bảo đảm đúng quy định của pháp luật, vừa hài hòa, phù hợp vì số ngày nghỉ trước Tết là hai ngày không quá ngắn, số ngày nghỉ sau Tết bao gồm ba ngày Tết và hai ngày nghỉ bù (thứ bảy - chủ nhật) là phù hợp. Người lao động chủ động thời gian đi lại, giao thông vận tải hành khách cũng đỡ bị áp lực vào thời gian trước Tết.
Về ngày nghỉ lễ Quốc khánh: Theo quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 112 của Bộ luật Lao động 2019, dịp nghỉ lễ Ngày Quốc khánh 2/9 nghỉ hai ngày (ngày 2/9 dương lịch và một ngày liền kề trước hoặc sau). Do đó, Bộ LĐ-TBXH đề xuất theo hai phương án sau:
Phương án 1 nghỉ ngày liền kề sau ngày 2/9
Công chức, viên chức được nghỉ 4 ngày, từ ngày thứ năm 2/9 đến ngày chủ nhật 5/9. Trong đó hai ngày nghỉ lễ dịp Quốc khánh và hai ngày là ngày nghỉ hằng tuần.
Phương án 2 Nghỉ ngày liền kề trước ngày 2/9.
Công chức, viên chức được nghỉ 2 ngày, từ ngày thứ tư 1/9 đến ngày thứ năm 2/9, đi làm vào ngày thứ sáu 3/9. và tiếp tục nghỉ hai ngày là ngày nghỉ hằng tuần 4-5/9.
Bộ LĐ-TBXH đề xuất Thủ tướng chọn phương án 1, với lý do công chức, viên chức được nghỉ liên tục 4 ngày, thuận tiện cho việc kỷ niệm, chào mừng ngày Quốc khánh, chuẩn bị vào năm học mới, đi du lịch,…và một số hoạt động khác.
Với các cơ quan, tổ chức không thực hiện lịch nghỉ cố định hai ngày thứ bảy, chủ nhật hằng tuần, căn cứ vào chương trình, kế hoạch cụ thể của đơn vị để bố trí lịch nghỉ cho phù hợp.
Đối với người lao động không phải là công chức, viên chức căn cứ vào điều kiện thực tế bố trí lịch nghỉ Tết Nguyên đán 2021 và dịp nghỉ lễ Quốc khánh như sau: Lựa chọn một ngày cuối năm và bốn ngày đầu năm âm lịch, hoặc hai ngày cuối năm và ba ngày đầu năm âm lịch.
Các doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị cần thông báo phương án nghỉ Tết Nguyên đán cho người lao động trước khi thực hiện ít nhất 30 ngày.
Đối với dịp nghỉ lễ Quốc khánh, người sử dụng lao động quyết định cho người lao động nghỉ hai ngày (ngày 2/9 dương lịch và một ngày liền trước hoặc sau).
Các đề xuất trên được căn cứ Khoản 3 Điều 112 Bộ luật Lao động năm 2019 và qua rà soát lịch năm 2021.
(Nguồn: Molisa.gov.vn)
9/18/2020 9:00 AMĐã ban hànhLao động - Tiền lươngTinĐề xuất 2 phương án nghỉ Tết Nguyên đán 2021/PublishingImages/2020-09/photo1600160839202-16001608393931040085555_Key_18092020085954.png
Bộ LĐ-TBXH có tờ trình gửi Chính phủ về việc nghỉ lễ, Tết năm 2021 đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động.
9/18/2020 9:00 AMYesĐã ban hành
Infographic: Lương, thưởng của người lao động thay đổi như thế nào từ năm 2021?Infographic: Lương, thưởng của người lao động thay đổi như thế nào từ năm 2021?
Từ năm 2021, người lao động sẽ được nghỉ 2 ngày và hưởng nguyên lương vào dịp lễ Quốc khánh (hiện nay, người lao động chỉ được nghỉ 1 ngày và hưởng nguyên lương vào ngày 02/9).

slide.jpg

Slide2_12.JPGSlide3_6.JPGSlide4_5.JPGSlide5_2.JPG

(Nguồn: Molisa.gov.vn)

9/4/2020 3:00 PMĐã ban hànhLao động - Tiền lươngTinInfographic: Lương, thưởng của người lao động thay đổi như thế nào từ năm 2021?/PublishingImages/2020-09/BLĐTBXH_luongthaydoithenao_Key_04092020142601.jpg
Từ năm 2021, người lao động sẽ được nghỉ 2 ngày và hưởng nguyên lương vào dịp lễ Quốc khánh (hiện nay, người lao động chỉ được nghỉ 1 ngày và hưởng nguyên lương vào ngày 02/9).
9/4/2020 3:00 PMYesĐã ban hành
Bộ trưởng Đào Ngọc Dung gửi thư chúc mừng nhân kỷ niệm 75 năm Ngày truyền thống Ngành Lao động - Thương binh và Xã hộiBộ trưởng Đào Ngọc Dung gửi thư chúc mừng nhân kỷ niệm 75 năm Ngày truyền thống Ngành Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhân kỷ niệm 75 năm Ngày truyền thống của Ngành (28/8/1945-28/8/2020), thay mặt Ban cán sự đảng, Lãnh đạo Bộ, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung gửi thư chúc mừng tới các thế hệ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động toàn ngành Lao động – Thương binh và Xã hội. Cổng TTĐT Bộ xin đăng tải toàn văn thư chúc mừng của Bộ trưởng Đào Ngọc Dung

thu-ky-niem-75-nam-ngay-thanh-lap-nganh-1.jpg

thu-ky-niem-75-nam-ngay-thanh-lap-nganh-2.jpg

8/28/2020 3:00 PMĐã ban hànhChính sách người có côngTinBộ trưởng Đào Ngọc Dung gửi thư chúc mừng nhân kỷ niệm 75 năm Ngày truyền thống Ngành Lao động - Thương binh và Xã hội/PublishingImages/2020-08/thu-ky-niem-75-nam-ngay-thanh-lap-nganh-1_Key_28082020140754.jpg
Nhân kỷ niệm 75 năm Ngày truyền thống của Ngành (28/8/1945-28/8/2020), thay mặt Ban cán sự đảng, Lãnh đạo Bộ, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung gửi thư chúc mừng tới các thế hệ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động toàn ngành Lao động – Thương binh và Xã hội. Cổng TTĐT Bộ xin đăng tải toàn văn thư chúc mừng của Bộ trưởng Đào Ngọc Dung
8/28/2020 3:00 PMYesĐã ban hành
Đề xuất gói hỗ trợ lần 2 cho doanh nghiệp và lao động gặp khó khănĐề xuất gói hỗ trợ lần 2 cho doanh nghiệp và lao động gặp khó khăn
Thực hiện Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7/2020 và trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, Bộ LĐ-TBXH vừa có văn bản gửi Bộ KH&ĐT đề xuất gói hỗ trợ lần 2 dành cho doanh nghiệp và người lao động gặp khó khăn do dịch Covid-19.

BLĐTBXH_01_26.8.2020.jpg

18.600 tỷ đồng hỗ trợ người lao động gặp khó khăn

Theo đề xuất, kinh phí của gói hỗ trợ lần 2 này là 18.600 tỷ đồng, nhằm hỗ trợ về chính sách tín dụng để phát triển sản xuất kinh doanh, duy trì, mở rộng việc làm và hỗ trực tiếp người lao động gặp khó khăn.
BLĐTBXH_02_26.8.2020.jpg
Lao động mất việc có hoàn cảnh khó khăn sẽ được hỗ trợ.
Theo đó, về chính sách tín dụng hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh, sẽ hỗ trợ cơ sở sản xuất kinh doanh và người lao động vay vốn ưu đãi để khôi phục, duy trì và hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần tạo, duy trì và mở rộng việc làm.
Đối tượng thụ hưởng là doanh nghiệp vừa và nhỏ; hợp tác xã, tổ hợp tác; hộ kinh doanh, trong đó ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ (dưới 10 lao động), hợp tác xã và hộ kinh doanh (gọi chung là cơ sở sản xuất, kinh doanh); người lao động tại khu vực nông thôn.
Bên cạnh đó, mức vay tối đa theo quy định tại Nghị định số 74/2019/NĐ-CP (đối với cơ sở sản xuất kinh doanh 2 tỷ đồng, đối với người lao động 100 triệu đồng).
Thời hạn hỗ trợ lãi suất là 12 tháng đối với các khoản vay mới. Thời gian áp dụng đối với các khoản vay mới phát sinh từ ngày 1/9/2020 đến ngày 1/9/2021. Lãi suất vay 3,96%/năm (bằng 50% lãi suất cho vay đối với hộ cận nghèo). Kinh phí ước tính là 15.000 tỷ đồng.
Bộ LĐ-TBXH cũng đề xuất chính sách hỗ trợ lao động mất việc có hoàn cảnh khó khăn, sẽ hỗ trợ trực tiếp bằng tiền cho người lao động bị mất việc làm có hoàn cảnh khó khăn (tiền thuê nhà, chi phí nuôi con dưới 6 tuổi).
Đối tượng là người lao động đang phải thuê nhà và (hoặc) nuôi con nhỏ dưới 6 tuổi bị mất việc làm hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương, ngừng việc đối với lao động có giao kết hợp đồng lao động.
Mức hỗ trợ 1 triệu đồng/người/tháng hoặc 1 triệu đồng/trẻ em dưới 6 tuổi; hỗ trợ tối đa 3 tháng. Thời gian áp dụng từ tháng 9/2020 đến tháng 12/2020. Kinh phí ước tính khoảng 3.600 tỷ đồng.
"Chính phủ yêu cầu Bộ LĐ-TBXH tập trung triển khai thực hiện hiệu quả các giải pháp về an sinh xã hội, lao động, việc làm, nhất là việc triển khai kịp thời, hiệu quả gói hỗ trợ cho người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 và đề xuất, kiến nghị phù hợp, kịp thời các biện pháp trong thời gian tới"Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7/2020.
Bên cạnh đó, Bộ LĐ-TBXH cũng kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét giảm lãi suất vay vốn tạo việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm và nguồn huy động của Ngân hàng Chính sách xã hội.
Cụ thể, lãi suất bằng 50% lãi suất cho vay hộ cận nghèo (3,96%/năm) (hiện nay, lãi suất cho vay là 7,92%/năm). Thời gian hỗ trợ lãi suất 12 tháng, áp dụng đối với các khoản vay mới phát sinh kể từ ngày 1/9/2020 đến ngày 1/9/2021.
Cơ bản hoàn thành chi trả hỗ trợ gói 62 nghìn tỷ
Về gói hỗ trợ lần thứ nhất (gói 62.000 tỷ đồng), Bộ LĐ-TBXH cho biết, tính đến hết tháng 7/2020, các địa phương đã phê duyệt danh sách gần 16 triệu người thuộc các nhóm đối tượng được thụ hưởng với tổng kinh phí là trên 17.500 tỷ đồng.
Cụ thể, Kho bạc Nhà nước trung ương đã thực hiện giải ngân gần 12.000 tỷ đồng để thực hiện hỗ trợ cho gần 12 triệu người và gần 13.000 hộ kinh doanh, gồm: Trên 11,5 triệu người là người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, người thuộc hộ nghèo, cận nghèo với kinh phí là trên 11.500 tỷ đồng; nhóm đối tượng là người lao động đã được hỗ trợ trên 402.000 người với kinh phí là trên 403 tỷ đồng.
BLĐTBXH_03_26.8.2020.jpg
Tính đến hết tháng 7/2020, đã có gần 16 triệu người được hỗ trợ theo Nghị quyết 42/NQ-CP, với tổng kinh phí là trên 17.500 tỷ đồng
Còn theo báo cáo của BHXH Việt Nam, tính đến ngày 31/7/2020, có 1.739 đơn vị sử dụng lao động được giải quyết tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất cho 164.529 người lao động, với tổng kinh phí gần 602, 622 tỷ đồng.
Theo Bộ LĐ-TBXH, sau 3 tháng triển khai thực hiện gói hỗ trợ an sinh theo Nghị quyết số 42/NQ-CP về cơ bản đã hoàn thành việc chi trả hỗ trợ đối với nhóm đối tượng người có công với cách mạng, bảo trợ xã hội, người thuộc hộ nghèo, cận nghèo. Đối với việc hỗ trợ người lao động, hộ kinh doanh, nhìn chung các chính sách hỗ trợ đã bao phủ tới các đối tượng thụ hưởng (chính sách BH thất nghiệp, chính sách tạm hoãn đóng BHXH, chính sách tạm hoãn hợp đồng lao động, ngừng việc…). Về cơ bản đảm bảo đúng đối tượng, đúng mục đích, yêu cầu đề ra, đối tượng thuộc diện chính sách nào thì đã được tiếp cận, thụ hưởng đúng chính sách đó.
Đối với một số vướng mắc và đề xuất kiến nghị của địa phương, Bộ LĐ-TBXH đã có Tờ trình số 67/TTr-LĐTBXH ngày 31/7/2020 trình Chính phủ về ban hành Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg ngày 24/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó mở rộng đối tượng thụ hưởng đối với chính sách hỗ trợ cho lao động tạm hoãn hợp đồng lao động, điều chỉnh các điều kiện đối với chính sách cho vay để trả lương ngừng việc cho người lao động, nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các đối tượng được tiếp cận  chính sách hỗ trợ tại Nghị quyết số 42/NQ-CP.
"Trong thời gian tới theo diễn biến tác động của dịch bệnh Covid-19, Bộ LĐ-TBXH sẽ tiếp tục đề xuất điều chỉnh các chính sách hỗ trợ tại Nghị quyết số 42/NQ-CP đối với người dân, người lao động cho phù hợp với thực tiến…", Bộ LĐ-TBXH cho biết.
(Nguồn: Molisa.gov.vn)



8/26/2020 3:00 PMĐã ban hànhLao động - Tiền lươngTinĐề xuất gói hỗ trợ lần 2 cho doanh nghiệp và lao động gặp khó khăn/PublishingImages/2020-08/BLĐTBXH_01_26_Key_26082020141232.8_Key_26082020141232.2020_Key_26082020141232.jpg
Thực hiện Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7/2020 và trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, Bộ LĐ-TBXH vừa có văn bản gửi Bộ KH&ĐT đề xuất gói hỗ trợ lần 2 dành cho doanh nghiệp và người lao động gặp khó khăn do dịch Covid-19.
8/26/2020 3:00 PMYesĐã ban hành
Điểm mới về tiền lương, thưởng mà người lao động cần phải biếtĐiểm mới về tiền lương, thưởng mà người lao động cần phải biết
Bộ luật lao động 2019 (có hiệu lực thi hành từ 1/1/2021) quy định nhiều điểm mới về tiền lương, thưởng mà người lao động cần phải biết để bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của bản thân.

1. Người sử dụng lao động (NSDLĐ) không được ép người lao động (NLĐ) dùng lương mua hàng hóa, dịch vụ của mình/đơn vị khác (Khoản 2 Điều 94)
NSDLĐ phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho NLĐ. Trường hợp NLĐ không thể nhận lương trực tiếp thì NSDLĐ có thể trả lương cho người được NLĐ ủy quyền hợp pháp.
NSDLĐ không được:
- Hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của NLĐ.
- Ép buộc NLĐ chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của NSDLĐ hoặc của đơn vị khác mà NSDLĐ chỉ định.
2. NSDLĐ phải thông báo bảng kê trả lương cho NLĐ vào mỗi lần trả lương (Điều 95)
NSDLĐ trả lương cho NLĐ căn cứ vào tiền lương đã thỏa thuận, năng suất lao động và chất lượng thực hiện công việc.
Mỗi lần trả lương, NSDLĐ phải thông báo bảng kê trả lương cho NLĐ, trong đó ghi rõ các nội dung sau đây:
- Tiền lương
- Tiền lương làm thêm giờ
- Tiền lương làm việc vào ban đêm
- Nội dung và số tiền bị khấu trừ (nếu có)
3. Điểm mới về lãi suất khi tính tiền đền bù do chậm trả lương cho NLĐ (Điều 94)
Về nguyên tắc, NSDLĐ phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho NLĐ. Trường hợp NLĐ không thể nhận lương trực tiếp thì NSDLĐ có thể trả lương cho người được NLĐ ủy quyền hợp pháp.
Tuy nhiên, trường hợp vì lý do bất khả kháng mà NSDLĐ đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày
Nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì NSDLĐ phải đền bù cho NLĐ một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi NSDLĐ mở tài khoản trả lương cho NLĐ công bố tại thời điểm trả lương.
4. NSDLĐ phải chịu chi phí mở tài khoản cho NLĐ nếu trả lương qua ngân hàng (Điều 96)
Trường hợp trả lương qua tài khoản cá nhân của NLĐ được mở tại ngân hàng thì NSDLĐ phải trả các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản và chuyển tiền lương.NSDLĐ và NLĐ thỏa thuận về hình thức trả lương theo thời gian, sản phẩm hoặc khoán. Lương được trả bằng tiền mặt hoặc trả qua tài khoản cá nhân của NLĐ được mở tại ngân hàng.
5. Tiền lương ngừng việc khi NLĐ phải ngừng việc vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của NSDLĐ hoặc do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế
Theo Khoản 3 Điều 99 BLLĐ 2019, trong trường hợp này, hai bên thỏa thuận về tiền lương ngừng việc như sau:
- Trường hợp ngừng việc từ 14 ngày làm việc trở xuống thì tiền lương ngừng việc được thỏa thuận không thấp hơn mức lương tối thiểu
- Trường hợp phải ngừng việc trên 14 ngày làm việc thì tiền lương ngừng việc do hai bên thỏa thuận nhưng phải bảo đảm tiền lương ngừng việc trong 14 ngày đầu tiên không thấp hơn mức lương tối thiểu.
(Hiện hành chỉ quy định tiền lương ngừng việc do hai bên thoả thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định).
6. Thêm nhiều trường hợp NLĐ được nghỉ việc riêng và hưởng nguyên lương
Cụ thể, theo BLLĐ 2019, NLĐ được nghỉ việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương và phải thông báo với NSDLĐ trong những trường hợp sau đây:
- Kết hôn: nghỉ 3 ngày;
- Con đẻ, con nuôi kết hôn: nghỉ 1 ngày;
- Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi của vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi chết: nghỉ 3 ngày.
Như vậy, so với quy định hiện hành, Bộ luật Lao động 2019 bổ sung thêm trường hợp cha nuôi, mẹ nuôi; cha nuôi, mẹ nuôi của vợ hoặc chồng chết thì NLĐ được nghỉ 3 ngày và hưởng nguyên lương.
Đồng thời, quy định rõ hơn trường hợp "con đẻ", "con nuôi" kết hôn thì được nghỉ 01 ngày (hiện hành, quy định "con" kết hôn thì nghỉ 01 ngày); "con đẻ", "con nuôi" chết thì được nghỉ 03 ngày (hiện hành quy định "con" chết thì nghỉ 03 ngày).
7. NLĐ được nghỉ 2 ngày dịp Quốc khánh 2/9 và hưởng nguyên lương
- Phương án 1: Nghỉ vào ngày 1-9 và ngày 2-9.Kể từ năm 2021, NLĐ sẽ được nghỉ 02 ngày và hưởng nguyên lương vào dịp lễ Quốc khánh (hiện nay, NLĐ chỉ được nghỉ 01 ngày và hưởng nguyên lương vào ngày 02/9) theo một trong hai phương án sau do Thủ tướng Chính phủ quyết định:
- Phương án 2: Nghỉ vào ngày 2-9 và ngày 3-9.
8. NLĐ có thể nghỉ việc ngay không cần báo trước nếu không được trả lương đúng hạn
Cụ thể, theo Điểm b Khoản 2 Điều 35 BLLĐ 2019, thì NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước cho NSDLĐ nếu không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều 97 BLLĐ 2019 (hiện hành phải báo trước 3 ngày).
9. Lao động nữ làm công việc nặng nhọc khi mang thai có thể được giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày và hưởng nguyên lương
Khoản 2 Điều 137 BLLĐ 2019 quy định lao động nữ làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con khi mang thai và có thông báo cho NSDLĐ biết thì được NSDLĐ chuyển sang làm công việc nhẹ hơn, an toàn hơn hoặc giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày mà không bị cắt giảm tiền lương và quyền, lợi ích cho đến hết thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
10. NLĐ được thưởng tiền hoặc tài sản hoặc bằng các hình thức khác
Căn cứ quy định tại Điều 104 BLLĐ 2019 thì thưởng là số tiền hoặc tài sản hoặc bằng các hình thức khác mà NSDLĐ thưởng cho NLĐ căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh, mức độ hoàn thành công việc của người lao động (Bộ luật lao động hiện hành chỉ quy định về tiền thưởng);
Quy chế thưởng do NSDLĐ quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.
(Nguồn: Molisa.gov.vn)


8/26/2020 3:00 PMĐã ban hànhLao động - Tiền lươngTinĐiểm mới về tiền lương, thưởng mà người lao động cần phải biết/PublishingImages/2020-08/BLĐTBXH_06_26_Key_26082020141901.8_Key_26082020141901.2020_Key_26082020141901.jpg
Bộ luật lao động 2019 (có hiệu lực thi hành từ 1/1/2021) quy định nhiều điểm mới về tiền lương, thưởng mà người lao động cần phải biết để bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của bản thân.
8/26/2020 3:00 PMYesĐã ban hành
Tuyên truyền chính sách Pháp luật về Giáo dục nghề nghiệpTuyên truyền chính sách Pháp luật về Giáo dục nghề nghiệp

1. Vai trò, vị trí của giáo dục nghề nghiệp

Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế đất nước, là nơi cung ứng nguồn nhân lực lao động qua đào tạo cho thị trường lao động. Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp, GDNN là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. Giáo dục nghề nghiệp được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên.

2. Mục tiêu giáo dục nghề nghiệp

Mục tiêu chung của GDNN là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn.

Giáo dục nghề nghiệp có ba trình độ đào tạo: sơ cấp, trung cấp cao đẳng, tương ứng với từ bậc 1 đến bậc 5 trong khung trình độ quốc gia Việt Nam.

- Thời gian, văn bằng, chứng chỉ đào tạo được mô tả như sau:

 

Trình độYêu cầu đầu vàoThời gian đào tạoVăn bằng, chứng chỉ
Sơ cấpĐủ điều kiện về sức khỏeTừ 3 tháng đến dưới 1 nămChứng chỉ sơ cấp

 

 

Trung cấp

 

Tốt nghiệp THCS

1 đến 2 năm tùy theo chuyên ngành hoặc nghề đào tạo

Bằng tốt nghiệp

 trung cấp

Tốt nghiệp THPT (hoặc có kiến thức văn hóa THPT theo quy định)1 đến 2 năm tùy theo chuyên ngành hoặc nghề đào tạo

Bằng tốt nghiệp trung cấp (có thể học liên thông lên trình độ

 cao hơn)

 

Cao đẳng

 

Tốt nghiệp THPT

 

 

2 đến 3 năm

 

Bằng tốt nghiệp cao đẳng (công nhận danh hiệu Cử nhân thực hành hoặc Kỹ sư

 thực hành)

 

Tốt nghiệp trung cấp và có kiến thức văn hóa THPT theo quy định

 

Daynghe_21.8_01.jpg
Học sinh đang thực hành trên máy vi tính

3. Mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp của tỉnh Tây Ninh

- Hiện nay trên địa bàn tỉnh Tây Ninh có 22 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong đó: 01 trường cao đẳng nghề Tây Ninh, 01 trường trung cấp nghề Khu vực Nam Tây Ninh, 01 trường trung cấp kinh tế - kỹ thuật Tây Ninh, 01 trường trung cấp y tế Tây Ninh, 01 trường trung cấp Tân Bách Khoa, 01 trường trung cấp Á Châu, 04 trung tâm đào tạo nghề lái xe ô tô, 01 cơ sở đào tạo nghề làm bánh, bếp trưởng Á - Âu. Các cơ sở còn lại tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

- Danh mục mô tả một số ngành, nghề đào tạo phổ biến tại địa phương trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng.

 

 

TT

 

Tên ngành/nghề

Trình độ đào tạo
Sơ cấpTrung cấpCao đẳng
1Điện công nghiệpxxx
2Cắt gọt kim loạixxx
3Kế toán doanh nghiệp xx
4Quản trị cơ sở dữ liệu xx
5Kỹ thuật máy lạnh và điều hòa không khí xx
6Công nghệ ô tô xx
7Quản trị mạng máy tính x 
8Nguội sửa chữa máy công cụ x 
9Lắp đặt thiết bị cơ khí x 
10Bảo trì hệ thống thiết bị cơ khí x 
11Chế tạo thiết bị cơ khí x 
12Điện tử công nghiệp x 
13Hàn điệnx  
14Lắp đặt điện cho cơ sở sản xuất nhỏx  
15Tiện renx  
16Sửa chữa máy kéo công suất nhỏx  
17Sửa chữa, bảo trì tủ lạnh và điều hòa nhiệt độx  
18Sửa chữa tivi, đầu VCD-DVD, đầu kỹ thuật sốx  
19Sửa chữa máy tính phần cứngx  
20Nguội căn bảnx  
21Dược sĩ trung cấp x 
22Y sỹ x 
23Điều dưỡng x 
24Kỹ thuật vật lý trị liệu, phục hồi chức năng x 
25Y sĩ y học cổ truyền x 
26Hộ sinh x 
27Kỹ thuật viên xoa bóp bấn huyệt masagex  
28Chăm sóc sức khỏex  
29Nghiệp vụ nhà hàngx  
30Quản trị du lịch MICE x 
31Quản lý và bán hàng siêu thị x 
32Quản lý và kinh doanh du lịch x 
33Quản lý và kinh doanh khách sạn x 
34Nghiệp vụ lưu trúx  
35Nghiệp vụ lễ tânx  
36Kinh doanh và quản lý nhà hàngx  
37Kỹ thuật pha chế tổng hợpx  
38Kỹ thuật làm bánh tổng hợpx  
39Kỹ thuật chế biến món ăn Á-Âux  
40Tin học ứng dụng x 
41Pháp luật x 
42Sư phạm mầm non x 
43Hành chính văn phòng x 
44Quản lý đất đai x 
45Vi tính văn phòngx  
46Thư ký văn phòngx  
47Tiếng Hàn Quốcx  
48Trồng trọt và Bảo vệ thực vật x 
49Chăn nuôi - Thú y x 
50Lái xe ô tô Hạng B2x  
51Lái xe ô tô Hạng Cx  
52Lái xe nâng hàngx  
Daynghe_21.8_02.jpg

Học thực hành chế biến món ăn tại Trung tâm dạy nghề

ẩm thực TPA- Tây Ninh


Daynghe_21.8_03.jpg
Học thực hành rửa dạ dày trên mô hình của Trường Trung cấp Y tế Tây Ninh
Daynghe_21.8_04.jpg
Thực hành ngành chăn nuôi thú y (tiêm chích bò) tại
Trường trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Tây Ninh
Daynghe_21.8_05.jpg
Học sinh Trường trung cấp nghề khu vực Nam Tây Ninh thực tập tại Công ty cơ khí Tài nguyên
Daynghe_21.8_06.jpg

Hướng dẫn học sinh thực hành phay bánh răng trụ, răng thẳng tại

Trường cao đẳng nghề Tây Ninh


Daynghe_21.8_07.jpg
Lễ tốt nghiệp tại Trường trung cấp Á Châu niên khóa 2017-2019

- Chỉ tiêu tuyển sinh của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp năm 2020

 

STTTên đơn vịKế hoạch tuyển sinh năm 2020
Trình độ cao đẳngTrình độ trung cấpTrình độ sơ cấpTổng cộng
1Trường cao đẳng nghề Tây Ninh21557080865
2Trường trung cấp nghề Khu vực Nam Tây Ninh 200200400
3Trường trung cấp kinh tế kỹ thuật 2800280
4Trường trung cấp Y tế Tây Ninh 80080
5Trường trung cấp Á Châu 38070450
6Trường trung cấp Tân Bách Khoa 550240790
7Công ty cổ phần đầu tư và phát triển giáo dục TPA  190190
8Trung tâm Dịch vụ việc làm Tây Ninh  900900
9Trung tâm Dạy nghề lái xe Thành Đạt  26862686
10Trung tâm  đào tạo lái xe ô tô Tây Ninh  12001200
11TTGDNN-GDTX Hòa Thành  420420

 

- Hình thức tuyển sinh đối với trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng: Xét tuyển học bạ trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT).

- Địa chỉ tra cứu thông tin về tuyển sinh, đào tạo của các trường:

+ Trường cao đẳng nghề Tây Ninh: 19 Võ Thị Sáu, khu phố 7, phường 3, thành phố Tây Ninh; Điện thoại: 0276 3815 480; Website: cdnghetayninh.edu.vn; Email: pdtcdn@gmail.com.

+ Trường trung cấp nghề Khu vực Nam Tây Ninh: Ấp Gia Lâm, phường Gia Lộc, thị xã Trảng Bàng; Điện thoại: 0276 3893 366; Website: www.namtayninh.edu.vn; Email: lemduc.tctn@gmail.com.

+ Trường trung cấp Kinh tế kỹ thuật Tây Ninh: Đường Trưng Nữ Vương, xã Thái Bình, huyện Châu Thành; Điện thoại: 0276 3879 179; Website: www.ktktayninh.edu.vn; Email:thktkt.tayninh@moet.edu.vn.

+ Trường trung cấp Y tế Tây Ninh: 288 đường 30/4, khu phố 5, phường 3, thành phố Tây Ninh; Điện thoại: 0276 3826 546; Website: truongytetayninh.edu.vn; Email: ytetayninh@moet.edu.vn.

+ Trường trung cấp Tân Bách Khoa: 24 Nguyễn Chí Thanh, phường 3, thành phố Tây Ninh; Điện thoại: 0276 3815 416; Website: tbkc.edu.vn; Email: daotao@tbkc.edu.vn.

+ Trường trung cấp Á Châu: Ấp Phước Đức A, xã Phước Đông, huyện Gò Dầu; Điện thoại: 0276 3521 521; Website: acv.edu,vn; Email: truongtrungcapachautayninh@gmail.com.

4. Chính sách về giáo dục nghề nghiệp của nước ta hiện nay

4.1. Chính sách miễn giảm học phí

Người học GDNN được Nhà nước miễn học phí trong các trường hợp sau:

- Người học các trình độ trung cấp, cao đẳng là người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng; người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; người dân tộc thiểu số rất ít người ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người mồ côi cả cha lẫn mẹ, không nơi nương tựa;

- Người tốt nghiệp trung học cơ sở (THCS) học tiếp lên trình độ trung cấp;

- Người học các trình độ trung cấp, cao đẳng đối với các ngành, nghề khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu; người học các ngành, nghề chuyên môn đặc thù đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh.

4.2. Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề

- Đào tạo nghề lao động nông thôn

+ Đào tạo nghề trình độ sơ cấp và các chương trình đào tạo dưới 3 tháng được hỗ trợ chi phí đào tạo cho các đối tượng sau: Lao động nông thôn từ 15 tuổi đến 60 tuổi (đối với nam) 55 tuổi (đối với nữ), có trình độ học vấn và sức khỏe phù hợp với nghề cần học; người lao động có hộ khẩu thường trú tại xã; người lao động có hộ khẩu thường trú tại phường, thị trấn đang trực tiếp làm nông nghiệp hoặc thuộc hộ gia đình có đất nông nghiệp bị thu hồi.

+ Ưu tiên đào tạo nghề cho các đối tượng thuộc diện hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người thuộc hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp, ngư dân.

- Đào tạo nghề cho thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an, thanh niên tình nguyện hoàn thành nhiệm vụ thực hiện chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội (gọi tắt là thanh niên).

+ Được hỗ trợ học nghề trình độ sơ cấp;

+ Được Nhà nước chi hỗ trợ đào tạo, tiền ăn, tiền đi lại theo quy định;

+ Hồ sơ đăng ký đào tạo nghề trình độ sơ cấp qua Thẻ: trong thời hạn 01 năm kể từ ngày được cấp Thẻ, thanh niên lựa chọn nghề và cơ sở giáo dục nghề nghiệp để nộp hồ sơ tuyển sinh kèm theo các giấy tờ sau: Thẻ đào tạo nghề trình độ sơ cấp (bản gốc); Quyết định xuất ngũ (bản sao) đối với thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; giấy chứng nhận tham gia hoạt động tình nguyện (bản sao) đối với thanh niên tình nguyện hoàn thành nhiệm vụ thực hiện chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội; giấy cam kết chưa được hỗ trợ đào tạo nghề khác có sử dụng nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước kể từ ngày hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an, hoàn thành chương trình dự án phát triển kinh tế - xã hội.

4.3. Chính sách về tín dụng đối với học sinh, sinh viên (Quyết định số 157/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ).

- Đối tượng được vay vốn: Học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đang học trung cấp, cao đẳng, đại học tại các cơ sở giáo dục;

- Mức vốn cho vay tối đa 800.000 đồng/ tháng/ học sinh, sinh viên;

- Lãi suất cho vay ưu đãi từ Ngân hàng chính sách xã hội đối với học sinh, sinh viên 0,5%/tháng.

5. Thông tin nhu cầu tuyển dụng lao động qua đào tạo của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh

Đến cuối năm 2020 toàn tỉnh có 431 doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng 16.519 lao động, trong đó: Trình độ đại học trở lên 1.130; cao đẳng 1.353; trung cấp 1.863; sơ cấp nghề 3.073; đào tạo thường xuyên 9.100 lao động.

Các bạn trẻ có nhu cầu tìm kiếm việc làm hãy liên hệ trực tiếp với Trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh Tây Ninh (Website: vieclamtayninh.gov.vn) để được tư vấn, giới thiệu việc làm phù hợp.

Daynghe_21.8_08.jpg

Hình ảnh hoạt động tư vấn việc làm tại Trung tâm dịch vụ việc làm Tây Ninh

Thông tin liên hệ

Phòng Dạy nghề - Lao động việc làm và An toàn lao động

Điện thoại: 0276 3829363






8/21/2020 11:00 AMĐã ban hànhDạy nghềTinTuyên truyền chính sách Pháp luật về Giáo dục nghề nghiệp/PublishingImages/2020-08/Daynghe_21_Key_21082020104126.8_07_Key_21082020104126.jpg
8/21/2020 11:00 AMYesĐã ban hành
Điều kiện để hưởng lương hưu khi Luật Lao động sắp thay đổiĐiều kiện để hưởng lương hưu khi Luật Lao động sắp thay đổi
Bộ luật Lao động 2019 có hiệu lực từ ngày 1/1/2021 quy định tăng tuổi nghỉ hưu của người lao động theo lộ trình, do vậy điều kiện hưởng lương hưu từ năm 2021 cũng sẽ có sự thay đổi.

Ngày 20/11/2019, kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Bộ luật Lao động 2019 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2020) quy định tăng tuổi nghỉ hưu của người lao động theo lộ trình và bắt đầu thực hiện từ ngày 1/1/2021.

Điều kiện hưởng lương hưu của người lao động từ năm 2021 cũng sẽ có sự thay đổi.
Theo đó, điều kiện hưởng lương hưu đối với người làm việc theo hợp đồng lao động (HĐLĐ) không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn, HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 3 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả HĐLĐ được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
Cán bộ, công chức, viên chức;Người làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ đủ 1 tháng đến dưới 3 tháng;
Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu;
Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;
Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn.
Tất cả đối tượng trên khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên thì được hưởng lương hưu nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Trường hợp 1: Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Bộ luật lao động 2019.
Trường hợp 2: Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Bộ luật lao động 2019 và có đủ 15 năm làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc có đủ 15 năm làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 1/1/2021.
Trường hợp 3: Người bị nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao.
Trường hợp 4: Trường hợp lao động nữ là cán bộ, công chức cấp xã hoặc là người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia bảo hiểm xã hội khi nghỉ việc mà có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng bảo hiểm xã hội và đủ tuổi nghỉ hưu quy định như trên thì được hưởng lương hưu.


8/18/2020 3:00 PMĐã ban hànhLao động - Tiền lươngTinĐiều kiện để hưởng lương hưu khi Luật Lao động sắp thay đổi/PublishingImages/2020-08/BLĐTBXH_04_26_Key_26082020141433.8_Key_26082020141433.2020_Key_26082020141433.jpg
Bộ luật Lao động 2019 có hiệu lực từ ngày 1/1/2021 quy định tăng tuổi nghỉ hưu của người lao động theo lộ trình, do vậy điều kiện hưởng lương hưu từ năm 2021 cũng sẽ có sự thay đổi.

8/18/2020 3:00 PMYesĐã ban hành
Lương, thưởng của người lao động thay đổi như thế nào từ năm 2021?Lương, thưởng của người lao động thay đổi như thế nào từ năm 2021?
Từ năm 2021, người lao động sẽ được nghỉ 2 ngày và hưởng nguyên lương vào dịp lễ Quốc khánh (hiện nay, người lao động chỉ được nghỉ 1 ngày và hưởng nguyên lương vào ngày 02/9).

Bộ luật Lao động 2019 (có hiệu lực thi hành từ 1/1/2021) quy định nhiều điểm mới về tiền lương, thưởng, người lao động cần lưu ý để bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của bản thân.

Thêm ngày nghỉ hưởng nguyên lương
Theo quy định tại Bộ luật Lao động 2019, từ 2021, người lao động làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau: 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường; 14 ngày làm việc đối với người lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; 16 ngày làm việc đối với người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
Người lao động cũng được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương trong những ngày Lễ, Tết sau đây: Tết Dương lịch 1 ngày (ngày 1-1 dương lịch); Tết Âm lịch 5 ngày; Ngày Chiến thắng 1 ngày (ngày 30-4 dương lịch); Ngày Quốc tế lao động, 1 ngày (ngày 1-5 dương lịch); Quốc khánh 2 ngày (ngày 2-9 dương lịch và 1 ngày liền kề trước hoặc sau); Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 1 ngày (ngày 10-3 âm lịch).
Ngoài ra, người lao động được nghỉ việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương và phải thông báo với người sử dụng lao động trong những trường hợp sau đây: Kết hôn: nghỉ 3 ngày; con đẻ, con nuôi kết hôn: nghỉ 1 ngày; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi của vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi chết: nghỉ 3 ngày.
Nghỉ việc không cần báo trước
Theo Điểm b Khoản 2 Điều 35 Bộ luật Lao động 2019, thì người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước cho người sử dụng lao động nếu không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều 97 BLLĐ 2019. Hiện nay, người lao động nghỉ việc phải báo trước 3 ngày.
Người lao động được thưởng bằng tiền hoặc tài sản
Căn cứ quy định tại Điều 104 Bộ luật Lao động 2019 thì thưởng là số tiền hoặc tài sản hoặc bằng các hình thức khác mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh, mức độ hoàn thành công việc của người lao động ( Bộ luật Lao động hiện hành chỉ quy định về tiền thưởng).
Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.
Phải đền bù cho người lao động nếu chậm trả lương
Về nguyên tắc, người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động. Trường hợp người lao động không thể nhận lương trực tiếp thì người sử dụng lao động có thể trả lương cho người được người lao động ủy quyền hợp pháp.
Tuy nhiên, trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày.
Nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương.


8/18/2020 3:00 PMĐã ban hànhLao động - Tiền lươngLương, thưởng của người lao động thay đổi như thế nào từ năm 2021?/PublishingImages/2020-08/BLĐTBXH_05_26_Key_26082020141632.8_Key_26082020141632.2020_Key_26082020141632.jpg
Từ năm 2021, người lao động sẽ được nghỉ 2 ngày và hưởng nguyên lương vào dịp lễ Quốc khánh (hiện nay, người lao động chỉ được nghỉ 1 ngày và hưởng nguyên lương vào ngày 02/9).
8/18/2020 3:00 PMYesĐã ban hành
 Lịch nghỉ chính thức ngày Quốc khánh 2/9 năm 2020 Lịch nghỉ chính thức ngày Quốc khánh 2/9 năm 2020
Ngày Quốc khánh (2/9) trùng vào thứ Tư nên người lao động sẽ được nghỉ 1 ngày.

Lễ Quốc khánh 2/9 năm nay rơi vào thứ Tư nên cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội chỉ có 1 ngày nghỉ lễ.

Theo Điểm đ Khoản 1 Điều 115 Bộ Luật Lao động 2012, người lao động được nghỉ và hưởng nguyên lương vào ngày 2.9.2020.
Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 97 của Luật Lao động 2012 quy định, nếu người lao động làm việc vào ngày nghỉ lễ còn được thêm tối thiểu khoản tiền bằng 300% mức lương làm việc trong ngày đó.
Trường hợp người lao động làm thêm vào ban đêm vào ngày nghỉ lễ sẽ được hưởng thêm 30% tiền lương của ngày bình thường.
Đối với các cơ quan, tổ chức không thực hiện lịch nghỉ ngày Quốc khánh 2.9 cố định, đơn vị căn cứ vào chương trình, kế hoạch cụ thể của mình để bố trí lịch nghỉ cho phù hợp.
(Nguồn: Molisa.gov.vn)
8/12/2020 3:00 PMĐã ban hànhLao động - Tiền lươngTin Lịch nghỉ chính thức ngày Quốc khánh 2/9 năm 2020/PublishingImages/2020-08/Lequockhanh_2020_Key_12082020143732.png
Ngày Quốc khánh (2/9) trùng vào thứ Tư nên người lao động sẽ được nghỉ 1 ngày.
8/12/2020 3:00 PMYesĐã ban hành
1 - 30Next